Chị Tòm (Cầu Giấy, Hà Nội) cho biết: “Mấy hôm nay trời thường rất lạnh vào lúc sáng sớm và xẩm tối cho đến đêm nên mình mặc cho con rất cẩn thận. Nào áo len, áo khoác kín cổ, đội mũ che tai rồi đi tất, đi giầy đầy đủ mà thằng bé vẫn bị lạnh tay chân, dù lưng và bụng thì lại ấm. Không biết con mình có bị bệnh gì không, mình thấy lo quá!”.
“Con bé Mun nhà tớ mỗi khi trời trở lạnh là biết tay nhau ngay, xụt xịt, ho hắng là chuyện bình thường. Cho nên tớ đặc biệt chú ý đến nàng khi phải cho nàng ra phố vào những ngày lạnh, quần áo, khăn, tất, mũ, găng tay… đủ cả. Vẫn chạy nhảy, nô đùa như bình thường, thậm chí có lúc kêu nóng nhưng lạ một điều là bàn tay, bàn chân của bé mình sờ vào vẫn thấy lạnh giá” là băn khoăn của chị Ninh (Thanh Trì, Hà Nội).
Chị Vân, đồng nghiệp của chị Ninh cũng cùng cảnh ngộ: “Mình thì gửi con cho bà ngoại trông, sáng đưa đi chiều đón về. Nhiều hôm đi làm về nhà thấy con gái chạy ra đón, nắm tay con thì thấy lạnh lạnh là, mình trách bà chăm cháu không cẩn thận, để cháu mặc không đủ ấm làm bà ngoại tự ái mất mấy hôm. Nhưng hôm chủ nhật vừa rồi ở nhà, bàn tay bàn chân con gái vẫn lạnh như thế dù mình đã mặc rất ấm cho con. Mình cho con mặc thêm quần áo thì con bé la toáng lên không chịu, còn nói “nóng, nóng” và bắt cởi bớt đồ ra. Quả thật là lưng con bé thì ra mồ hôi nhưng tay chân vẫn bị lạnh. Thế là như thế nào nhỉ?”.
Giải thích về hiện tượng này, bác sĩ Vũ Văn Lực (Viện Bảo hộ lao động) cho biết: “Mặc dù bé bị lạnh chân tay không phải là bệnh lý nhưng cha mẹ không nên bỏ qua mà cần chú ý chăm sóc con hơn. Bởi theo một số nghiên cứu trên thế giới, trẻ bị lạnh chân tay vào mùa đông dù đã mặc quần áo ấm thường có sức đề kháng kém và có thể dễ mắc các bệnh như cảm lạnh, nhiễm trùng đường hô hấp, viêm phổi… và các bệnh truyền nhiễm”.
Bác sĩ Lực còn cho biết thêm, đối với trẻ nhỏ, tay chân lạnh thường do sức đề kháng yếu hoặc thiếu máu thường xuyên. Thêm vào đó, ngón chân, đầu gối, vai, ngón tay lại là những bộ phận thường xuyên vận động nhiều nên có ít chất béo, không giữ được nhiệt lâu. Các mạch máu càng ít chất béo hơn nên càng dễ bị lạnh. Ngoài ra, hạ đường huyết và huyết áp thấp cũng rất dễ khiến chân tay bị ngấm lạnh.
Bởi vậy, muốn giữ ấm cơ thể trong mùa đông, bên cạnh việc cho bé mặc đủ quần áo và giữ nhiệt độ phòng ở mức ổn định, các mẹ có thể cải thiện bằng chế độ ăn uống thường xuyên được bổ sung thực phẩm giàu chất sắt.
Một số loại thực phẩm có hàm lượng sắt tương đối phong phú như: lòng đỏ trứng, thịt bò, thịt cừu, cá, gan động vật, tiết, đậu nành, rau chân vịt, nấm… Ngoài ra, cũng nên cho trẻ ăn các loại thực phẩm có tác dụng thúc đẩy lưu thông tuần hoàn máu như: hạt mè, rau chân vịt, hạt lạc, đậu phụ, tỏi, hẹ tây, hạt tiêu… đồng thời ăn trái cây tươi để ngăn chặn tình trạng thiếu vitamin.
Bên cạnh việc bổ sung dinh dưỡng đúng cách, các mẹ có thể cho bé uống nước thường xuyên, tăng cường vận động cơ thể và có thể sử dụng phòng tắm xông hơi để giúp thúc đẩy tuần hoàn máu ở chân tay. Duy trì tập thể dục đều đặn hàng ngày cũng là một phương pháp tốt để tăng cường sức đề kháng và cải thiện khả năng thích ứng của cơ thể bé trong mùa đông.
Hiển thị các bài đăng có nhãn tre-em. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tre-em. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Sáu, 31 tháng 1, 2014
Những thói quen xấu khiến bé bị sâu răng
1. Uống si rô ho không xúc miệng
Một số bà mẹ sau khi cho con uống si rô ho vào buổi tối trước khi đi ngủ (để con không bị ho vào buổi đêm) thường không cho con uống nước hoặc xúc miệng do sợ làm pha loãng thuốc, làm giảm hiệu quả chữa trị của thuốc. Cách làm này không đúng vì trong phần lớn các si rô ho dành cho trẻ em đều chứa một lượng đường nhất định, nếu uống si rô trong thời gian dài sẽ tích lũy đường trong răng bé và gây ra sâu răng. Vì vậy, cho dù là thuốc thì sau khi uống si rô ho, các mẹ vẫn phải cho con vệ sinh răng như bình thường.
2. Ăn thức ăn nóng, lạnh liền nhau
Thông thường các bé thường được mẹ cho ăn cháo, cơm nóng hoặc uống sữa ấm sau đó tráng miệng bằng sữa chua, trái cây… (thường được trữ trong tủ lạnh). Việc ăn xen kẽ thức ăn nóng, lạnh như vậy thực sự rất có hại cho răng, trong một số trường hợp trẻ còn cảm thấy đau răng ngay sau khi ăn.
Các mẹ cần biết rằng, nhất là răng sữa đặc biệt nhạy cảm với sự thay đổi nhiệt độ nóng – lạnh. Bởi vậy, đau răng do nguyên nhân này lâu ngày có thể dẫn đến viêm tủy răng và một số bệnh về răng khác.
3. Uống sữa, nước hoa quả trước khi đi ngủ
Trong sữa có lactose, trong nước hoa quả có dư lượng đường cao nên nếu uống trước khi đi ngủ sẽ khiến vi khuẩn đường miệng dễ dàng xâm nhập và làm tổn thương răng. Vì vậy, các mẹ phải chắc chắn bé được đánh răng và súc miệng bằng nước diệt khuẩn sau mỗi lần uống sữa hay nước hoa quả trước khi ngủ. Với các bé sơ sinh, mẹ phải vệ sinh lợi và khoang miệng của bé thật cẩn thận sau khi cho bé bú cữ buổi tối. Tuy vậy, theo các chuyên gia chăm sóc răng miệng trẻ em, cách tốt nhất là các mẹ tập cho con bỏ dần thói quen uống sữa, nước hoa quả trước khi đi ngủ.
4. Dùng răng mở nắp chai, xé bao bì
Mở nắp chai, xé bao bì, cắn chỉ khâu… hoặc cắn đồ vật cứng, nhọn sẽ tạo nên các vết nứt sâu trên răng, thậm chí có thể gây sứt hoặc mẻ răng. Ngoài ra, khi bé dùng răng để làm những việc như thế này sẽ khiến răng tiếp xúc với vi khuẩn trên miệng chai, bao bì, đồ vật… Vì vậy, các mẹ cần tỏ thái độ dứt khoát và “mạnh tay” ngăn chặn thói quen xấu này của bé.
5. Ăn quá nhiều
Ăn nhiều đồ ăn, đặc biệt là đồ chiên xào không những có thể gây khó tiêu, béo phì, viêm loét miệng… mà còn ảnh hưởng không tốt đến “sức khỏe” của răng, khiến răng phải làm việc quá nhiều và tiếp xúc với nhiều loại chất, lâu dần có thể gây ra những cơn đau răng rất khó chịu. Vì thế, các mẹ cần chú ý đến chế độ và tần suất ăn uống của con, để đảm bảo bé có chế độ ăn uống cân bằng, lành mạnh.
6. Hay ăn vặt
Các bà mẹ thường có thói quen cho con ăn nhẹ giữa các bữa ăn chính để đảm bảo bé luôn được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng. Nhưng các mẹ không biết rằng khi cho con ăn vặt như vậy, nước bọt tiết ra ít hơn, khiến đồ ăn dễ dàng bám trên răng, đặc biệt là thực phẩm giàu tinh bột như khoai tây chiên. Trên thực tế, sau mỗi lần ăn như vậy, các mẹ thường không vệ sinh răng cho con vì như vậy rất bất tiện, mất thời gian và vệ sinh răng quá nhiều lần trong ngày cũng không phải là tốt. Vì thế, thường xuyên ăn vặt dễ khiến răng bị sâu và có thể làm hỏng men răng.
Các chuyên gia y khoa về chăm sóc răng miệng khuyên các mẹ nên hạn chế cho con ăn vặt, chỉ nên ăn ở mức độ nhất định và không nên cho con ăn đồ ngọt như bánh kẹo trước khi đi ngủ. Nếu cho ăn, cần phải đảm bảo bé đã được vệ sinh răng miệng sạch sẽ trước khi lên giường đi ngủ.
Một số bà mẹ sau khi cho con uống si rô ho vào buổi tối trước khi đi ngủ (để con không bị ho vào buổi đêm) thường không cho con uống nước hoặc xúc miệng do sợ làm pha loãng thuốc, làm giảm hiệu quả chữa trị của thuốc. Cách làm này không đúng vì trong phần lớn các si rô ho dành cho trẻ em đều chứa một lượng đường nhất định, nếu uống si rô trong thời gian dài sẽ tích lũy đường trong răng bé và gây ra sâu răng. Vì vậy, cho dù là thuốc thì sau khi uống si rô ho, các mẹ vẫn phải cho con vệ sinh răng như bình thường.
2. Ăn thức ăn nóng, lạnh liền nhau
Thông thường các bé thường được mẹ cho ăn cháo, cơm nóng hoặc uống sữa ấm sau đó tráng miệng bằng sữa chua, trái cây… (thường được trữ trong tủ lạnh). Việc ăn xen kẽ thức ăn nóng, lạnh như vậy thực sự rất có hại cho răng, trong một số trường hợp trẻ còn cảm thấy đau răng ngay sau khi ăn.
Các mẹ cần biết rằng, nhất là răng sữa đặc biệt nhạy cảm với sự thay đổi nhiệt độ nóng – lạnh. Bởi vậy, đau răng do nguyên nhân này lâu ngày có thể dẫn đến viêm tủy răng và một số bệnh về răng khác.
3. Uống sữa, nước hoa quả trước khi đi ngủ
Trong sữa có lactose, trong nước hoa quả có dư lượng đường cao nên nếu uống trước khi đi ngủ sẽ khiến vi khuẩn đường miệng dễ dàng xâm nhập và làm tổn thương răng. Vì vậy, các mẹ phải chắc chắn bé được đánh răng và súc miệng bằng nước diệt khuẩn sau mỗi lần uống sữa hay nước hoa quả trước khi ngủ. Với các bé sơ sinh, mẹ phải vệ sinh lợi và khoang miệng của bé thật cẩn thận sau khi cho bé bú cữ buổi tối. Tuy vậy, theo các chuyên gia chăm sóc răng miệng trẻ em, cách tốt nhất là các mẹ tập cho con bỏ dần thói quen uống sữa, nước hoa quả trước khi đi ngủ.
4. Dùng răng mở nắp chai, xé bao bì
Mở nắp chai, xé bao bì, cắn chỉ khâu… hoặc cắn đồ vật cứng, nhọn sẽ tạo nên các vết nứt sâu trên răng, thậm chí có thể gây sứt hoặc mẻ răng. Ngoài ra, khi bé dùng răng để làm những việc như thế này sẽ khiến răng tiếp xúc với vi khuẩn trên miệng chai, bao bì, đồ vật… Vì vậy, các mẹ cần tỏ thái độ dứt khoát và “mạnh tay” ngăn chặn thói quen xấu này của bé.
5. Ăn quá nhiều
Ăn nhiều đồ ăn, đặc biệt là đồ chiên xào không những có thể gây khó tiêu, béo phì, viêm loét miệng… mà còn ảnh hưởng không tốt đến “sức khỏe” của răng, khiến răng phải làm việc quá nhiều và tiếp xúc với nhiều loại chất, lâu dần có thể gây ra những cơn đau răng rất khó chịu. Vì thế, các mẹ cần chú ý đến chế độ và tần suất ăn uống của con, để đảm bảo bé có chế độ ăn uống cân bằng, lành mạnh.
6. Hay ăn vặt
Các bà mẹ thường có thói quen cho con ăn nhẹ giữa các bữa ăn chính để đảm bảo bé luôn được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng. Nhưng các mẹ không biết rằng khi cho con ăn vặt như vậy, nước bọt tiết ra ít hơn, khiến đồ ăn dễ dàng bám trên răng, đặc biệt là thực phẩm giàu tinh bột như khoai tây chiên. Trên thực tế, sau mỗi lần ăn như vậy, các mẹ thường không vệ sinh răng cho con vì như vậy rất bất tiện, mất thời gian và vệ sinh răng quá nhiều lần trong ngày cũng không phải là tốt. Vì thế, thường xuyên ăn vặt dễ khiến răng bị sâu và có thể làm hỏng men răng.
Các chuyên gia y khoa về chăm sóc răng miệng khuyên các mẹ nên hạn chế cho con ăn vặt, chỉ nên ăn ở mức độ nhất định và không nên cho con ăn đồ ngọt như bánh kẹo trước khi đi ngủ. Nếu cho ăn, cần phải đảm bảo bé đã được vệ sinh răng miệng sạch sẽ trước khi lên giường đi ngủ.
Những thực phẩm không nên cho bé ăn nhiều
1. Cam
Cam tươi có chứa carotene, nếu ăn quá nhiều có thể gây đau bụng, tiêu chảy và thậm chí dẫn đến một số bệnh về xương.
2. Rau chân vịt
Axit oxalic có nhiều trong rau chân vịt và khi kết hợp với canxi và kẽm trong cơ thể con người sẽ biến thành hợp chất rất khó hấp thu và bài tiết.
3. Trứng gà
Ăn quá nhiều trứng gà làm tăng lượng cholesterol trong cơ thể, rất dễ tạo thành các chất dinh dưỡng dư thừa.
4. Trà đặc
Trong trà, đặc biệt là trà pha đặc có chứa một lượng lớn axit tannic. Khi loại axit này kết hợp với chất sắt bên trong cơ thể sẽ tạo thành hợp chất rất khó hấp thu, khiến cơ thể có nguy cơ bị thiếu sắt.
5. Thạch (jelly)
Thạch được làm từ chất làm đông đặc, hương vị, chất ngọt và chất tạo màu. Ăn quá nhiều thạch jelly có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và sức khỏe tâm thần của trẻ nhỏ. Ngoài ra, nếu không cẩn thận thì khi ăn thạch, bé có thể bị hóc, nghẹn gây hô hấp khó khăn.
6. Cá muối
Các loại cá ướp muối có chứa lượng lớn dimethyl sulfoxide nitrat, một chất hóa học có khả năng gây ung thư cao khi được hấp thu vào cơ thể con người.
7. Kẹo cao su
Trong thành phần của phần lớn các loại kẹo cao su đều có chứa chất hóa dẻo, phenol, hương vị, chất tạo màu, ăn nhiều không có lợi cho sức khỏe trẻ nhỏ. Bên cạnh đó, theo quán tính, các bé nhai kẹo xong thường nuốt luôn vào bụng mà không nhả bã hoặc nhả bã không đúng nơi quy định.
8. Các loại đậu
Trong các hạt đậu có chứa chất gây bướu cổ và bài tiết hormone tuyến giáp ra bên ngoài cơ thể. Vì thế, ăn nhiều đậu có thể gây thiếu hormone tuyến giáp.
9. Nhân sâm
Trẻ nhỏ ăn nhiều nhân sâm có thể làm cơ thể dậy thì sớm.
10. Thực phẩm đóng hộp
Các chất phụ gia trong thực phẩm đóng hộp ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của trẻ nhỏ và có khả năng gây ngộ độc mãn tính.
11. Bỏng ngô
Lượng chì có trong thành phần bỏng ngô tương đối cao, khi đi vào cơ thể có thể làm hại hệ thống thần kinh, tiêu hóa và ảnh hưởng chức năng tạo máu.
12. Mì ăn liền
Chất bảo quản và tạo màu có trong mì ăn liền không tốt cho sức khỏe con người, đặc biệt là trẻ nhỏ.
13. Hạt hướng dương
Hạt hướng dương chứa một số loại axit béo không bão hòa, vì thế nếu trẻ nhỏ ăn nhiều sẽ gây ảnh hưởng đến chức năng của gan.
14. Cola
Đồ uống chế biến từ hạt cola gây nguy hiểm cho sức khỏe và các cơ quan khí quan của trẻ nhỏ.
15. Mỡ động vật
Không chỉ gây ra bệnh béo phì, ăn nhiều mỡ động vật còn gây ảnh hưởng đến sự hấp thu canxi của cơ thể trẻ nhỏ.
16. Thịt nướng, thịt hun khói
Thịt hun khói và thịt nướng, đặc biệt là thịt cừu nướng có chứa một số chất gây ung thư cao.
17. Chocolate
Trẻ nhỏ ăn quá nhiều chocolate sẽ làm cho hệ thống thần kinh trung ương luôn ở trong trạng thái bị kích thích, có thể dẫn đến co giật cơ, tim đập nhanh và tâm trạng lo lắng, ngoài ra còn ảnh hưởng đến cảm giác thèm ăn.
18. Muối
Lúc nhỏ ăn quá mặn hoặc quá nhiều muối sẽ khiến bé dễ bị bệnh mạch vành, ung thư dạ dày, tăng huyết áp và một số bệnh khác khi đến tuổi trưởng thành.
Cam tươi có chứa carotene, nếu ăn quá nhiều có thể gây đau bụng, tiêu chảy và thậm chí dẫn đến một số bệnh về xương.
2. Rau chân vịt
Axit oxalic có nhiều trong rau chân vịt và khi kết hợp với canxi và kẽm trong cơ thể con người sẽ biến thành hợp chất rất khó hấp thu và bài tiết.
3. Trứng gà
Ăn quá nhiều trứng gà làm tăng lượng cholesterol trong cơ thể, rất dễ tạo thành các chất dinh dưỡng dư thừa.
4. Trà đặc
Trong trà, đặc biệt là trà pha đặc có chứa một lượng lớn axit tannic. Khi loại axit này kết hợp với chất sắt bên trong cơ thể sẽ tạo thành hợp chất rất khó hấp thu, khiến cơ thể có nguy cơ bị thiếu sắt.
5. Thạch (jelly)
Thạch được làm từ chất làm đông đặc, hương vị, chất ngọt và chất tạo màu. Ăn quá nhiều thạch jelly có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và sức khỏe tâm thần của trẻ nhỏ. Ngoài ra, nếu không cẩn thận thì khi ăn thạch, bé có thể bị hóc, nghẹn gây hô hấp khó khăn.
6. Cá muối
Các loại cá ướp muối có chứa lượng lớn dimethyl sulfoxide nitrat, một chất hóa học có khả năng gây ung thư cao khi được hấp thu vào cơ thể con người.
7. Kẹo cao su
Trong thành phần của phần lớn các loại kẹo cao su đều có chứa chất hóa dẻo, phenol, hương vị, chất tạo màu, ăn nhiều không có lợi cho sức khỏe trẻ nhỏ. Bên cạnh đó, theo quán tính, các bé nhai kẹo xong thường nuốt luôn vào bụng mà không nhả bã hoặc nhả bã không đúng nơi quy định.
8. Các loại đậu
Trong các hạt đậu có chứa chất gây bướu cổ và bài tiết hormone tuyến giáp ra bên ngoài cơ thể. Vì thế, ăn nhiều đậu có thể gây thiếu hormone tuyến giáp.
9. Nhân sâm
Trẻ nhỏ ăn nhiều nhân sâm có thể làm cơ thể dậy thì sớm.
10. Thực phẩm đóng hộp
Các chất phụ gia trong thực phẩm đóng hộp ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của trẻ nhỏ và có khả năng gây ngộ độc mãn tính.
11. Bỏng ngô
Lượng chì có trong thành phần bỏng ngô tương đối cao, khi đi vào cơ thể có thể làm hại hệ thống thần kinh, tiêu hóa và ảnh hưởng chức năng tạo máu.
12. Mì ăn liền
Chất bảo quản và tạo màu có trong mì ăn liền không tốt cho sức khỏe con người, đặc biệt là trẻ nhỏ.
13. Hạt hướng dương
Hạt hướng dương chứa một số loại axit béo không bão hòa, vì thế nếu trẻ nhỏ ăn nhiều sẽ gây ảnh hưởng đến chức năng của gan.
14. Cola
Đồ uống chế biến từ hạt cola gây nguy hiểm cho sức khỏe và các cơ quan khí quan của trẻ nhỏ.
15. Mỡ động vật
Không chỉ gây ra bệnh béo phì, ăn nhiều mỡ động vật còn gây ảnh hưởng đến sự hấp thu canxi của cơ thể trẻ nhỏ.
16. Thịt nướng, thịt hun khói
Thịt hun khói và thịt nướng, đặc biệt là thịt cừu nướng có chứa một số chất gây ung thư cao.
17. Chocolate
Trẻ nhỏ ăn quá nhiều chocolate sẽ làm cho hệ thống thần kinh trung ương luôn ở trong trạng thái bị kích thích, có thể dẫn đến co giật cơ, tim đập nhanh và tâm trạng lo lắng, ngoài ra còn ảnh hưởng đến cảm giác thèm ăn.
18. Muối
Lúc nhỏ ăn quá mặn hoặc quá nhiều muối sẽ khiến bé dễ bị bệnh mạch vành, ung thư dạ dày, tăng huyết áp và một số bệnh khác khi đến tuổi trưởng thành.
Axit béo cần thiết cho bé
Axit béo cần thiết (essential fatty acids – EFAs) giúp xây dựng các tế bào, duy trì hoạt động của hệ thần kinh trung ương, làm khỏe tim và các mạch máu, tăng miễn dịch và giúp cơ thể hấp thu các chất dinh dưỡng. EFAs cũng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển thị giác và bộ não của bé.
Có 2 loại EFAs: Đó là Omega-6 (axit linoleic) và Omega-3 (axit alpha-linolenic).
Cơ chế hoạt động của các axit béo cần thiết
Cơ thể sử dụng các chất béo chuỗi ngắn để tạo nên các axit béo chuỗi dài, giúp cơ thể khỏe mạnh theo nhiều cách, tùy mục đích của chúng.
Một trong những axit béo chuỗi dài mà cơ thể sản xuất từ axit alpha-linolenic là DHA (docosahexaenoic acid), rất cần thiết cho não và mắt của bé. Điều này giải thích tại sao sữa bột dành cho các bé nhũ nhi đều có chứa DHA và đó cũng là lý do phụ nữ mang thai, phụ nữ sau sinh được khuyên nên tăng cường DHA trong chế độ ăn của họ, qua thực phẩm và cả viên bổ sung.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới sản xuất DHA của cơ thể bé, gồm lượng chất béo Omega-6, chất béo bão hòa và chất béo trans (trans fats) trong chế độ ăn. Mất cân bằng chất béo Omega-6 và Omega-3 có thể gây ảnh hưởng tiêu cực tới hệ miễn dịch và phản ứng kháng viêm của cơ thể. Điều này nghĩa là bé dễ mắc bệnh như bệnh tim mạch và tiểu đường.
EPA (eicosapentaenoic acid) là một axit béo chuỗi dài mà bé hấp thu qua sữa mẹ. Giống DHA, chất này còn có trong các loại cá chứa dầu.
Lượng EFAs cho bé
- Bé 1-3 tuổi: 7000mg Omega-6 và 700mg Omega-3 mỗi ngày.
- Bé 4-8 tuổi: 10.000mg Omega-6 và 900mg Omega-3 mỗi ngày.
Omega-6 và Omega3 có mặt trong nhiều loại thực phẩm.
Nguồn dồi dào EFAs
Thực phẩm nhiều Omega-3:
- 30g đậu phụ: 300mg Omega-3.
- ½ bát đậu nành nấu chín: 500mg Omega-3.
- 1 thìa dầu hạt lanh: 1.500mg Omega-3.
- 1 thìa bơ lạc bổ sung Omage-3: 4.500mg Omega-3.
Ngoài ra, Omega-3 còn có trong sữa, sữa chua, nước cam ép và trứng. Omega-3 cũng có thể hiện diện trong nhiều loại thức ăn chế biến sẵn; do đó, bạn nên đọc kỹ nhãn hiệu trước khi cho bé ăn món gì.
Nguồn dồi dào Omega-6: Nhìn chung, Omega-6 có trong nhiều loại thực phẩm hơn Omega-3. Chẳng hạn, trong dầu đậu nành, hạt hướng dương, dầu ngô...
- 1 thìa dầu hạt hướng dương: 2.900mg Omega-6.
- 1 thìa dầu ngô: 2.400mg Omega-6.
- 1 thìa dầu cây rum: 3.300mg Omega-6.
- 1 thìa dầu đậu nành: 2600mg Omega-6.
Để bé đủ DHA và EPA
Cơ thể bé dùng Omega-3 để tạo ra DHA và EPA. Các chuyên gia đề nghị, bé 1-3 tuổi cần 70mg DHA và EPA mỗi ngày; bé 4-8 tuổi cần 90mg DHA và EPA mỗi ngày. Nên khuyến khích bé ăn các thực phẩm giàu DHA hàng tuần, chẳng hạn:
- 30g cá hồi nấu chín: 400mg DHA.
- 30g cá thu đóng hộp: 226mg DHA.
- 30g cá sardines: 282mg DHA.
Ngoài ra, DHA còn có trong sữa, trứng, bánh... có bổ sung DHA.
Khi bé nhận quá nhiều EFAs
Quá nhiều EFAs sẽ dẫn tới mất cân bằng. Cách tốt nhất để cân bằng các axit béo cho dinh dưỡng của bé là chọn thực phẩm giàu Omega-3, tránh chất béo bão hòa và chất béo trans.
Trans fats có mặt trong nhiều đồ ăn chiên rán, bánh kẹo, pizza, bơ thực vật... Trans fats làm tăng LDL (cholesterol xấu) và giảm HDL (cholesterol tốt). Vì thế, nó làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch, tiẻu đường.
Chất béo bã hòa có trong các thực phẩm từ động vật như thịt, sữa và các sản phẩm từ sữa như kem, bơ, pho mát... Chúng cũng được tìm thấy trong đồ ăn nướng, chiên rán và một số thực phẩm từ thực vật như tinh dầu cọ, tinh dầu dừa..
Có 2 loại EFAs: Đó là Omega-6 (axit linoleic) và Omega-3 (axit alpha-linolenic).
Cơ chế hoạt động của các axit béo cần thiết
Cơ thể sử dụng các chất béo chuỗi ngắn để tạo nên các axit béo chuỗi dài, giúp cơ thể khỏe mạnh theo nhiều cách, tùy mục đích của chúng.
Một trong những axit béo chuỗi dài mà cơ thể sản xuất từ axit alpha-linolenic là DHA (docosahexaenoic acid), rất cần thiết cho não và mắt của bé. Điều này giải thích tại sao sữa bột dành cho các bé nhũ nhi đều có chứa DHA và đó cũng là lý do phụ nữ mang thai, phụ nữ sau sinh được khuyên nên tăng cường DHA trong chế độ ăn của họ, qua thực phẩm và cả viên bổ sung.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới sản xuất DHA của cơ thể bé, gồm lượng chất béo Omega-6, chất béo bão hòa và chất béo trans (trans fats) trong chế độ ăn. Mất cân bằng chất béo Omega-6 và Omega-3 có thể gây ảnh hưởng tiêu cực tới hệ miễn dịch và phản ứng kháng viêm của cơ thể. Điều này nghĩa là bé dễ mắc bệnh như bệnh tim mạch và tiểu đường.
EPA (eicosapentaenoic acid) là một axit béo chuỗi dài mà bé hấp thu qua sữa mẹ. Giống DHA, chất này còn có trong các loại cá chứa dầu.
Lượng EFAs cho bé
- Bé 1-3 tuổi: 7000mg Omega-6 và 700mg Omega-3 mỗi ngày.
- Bé 4-8 tuổi: 10.000mg Omega-6 và 900mg Omega-3 mỗi ngày.
Omega-6 và Omega3 có mặt trong nhiều loại thực phẩm.
Nguồn dồi dào EFAs
Thực phẩm nhiều Omega-3:
- 30g đậu phụ: 300mg Omega-3.
- ½ bát đậu nành nấu chín: 500mg Omega-3.
- 1 thìa dầu hạt lanh: 1.500mg Omega-3.
- 1 thìa bơ lạc bổ sung Omage-3: 4.500mg Omega-3.
Ngoài ra, Omega-3 còn có trong sữa, sữa chua, nước cam ép và trứng. Omega-3 cũng có thể hiện diện trong nhiều loại thức ăn chế biến sẵn; do đó, bạn nên đọc kỹ nhãn hiệu trước khi cho bé ăn món gì.
Nguồn dồi dào Omega-6: Nhìn chung, Omega-6 có trong nhiều loại thực phẩm hơn Omega-3. Chẳng hạn, trong dầu đậu nành, hạt hướng dương, dầu ngô...
- 1 thìa dầu hạt hướng dương: 2.900mg Omega-6.
- 1 thìa dầu ngô: 2.400mg Omega-6.
- 1 thìa dầu cây rum: 3.300mg Omega-6.
- 1 thìa dầu đậu nành: 2600mg Omega-6.
Để bé đủ DHA và EPA
Cơ thể bé dùng Omega-3 để tạo ra DHA và EPA. Các chuyên gia đề nghị, bé 1-3 tuổi cần 70mg DHA và EPA mỗi ngày; bé 4-8 tuổi cần 90mg DHA và EPA mỗi ngày. Nên khuyến khích bé ăn các thực phẩm giàu DHA hàng tuần, chẳng hạn:
- 30g cá hồi nấu chín: 400mg DHA.
- 30g cá thu đóng hộp: 226mg DHA.
- 30g cá sardines: 282mg DHA.
Ngoài ra, DHA còn có trong sữa, trứng, bánh... có bổ sung DHA.
Khi bé nhận quá nhiều EFAs
Quá nhiều EFAs sẽ dẫn tới mất cân bằng. Cách tốt nhất để cân bằng các axit béo cho dinh dưỡng của bé là chọn thực phẩm giàu Omega-3, tránh chất béo bão hòa và chất béo trans.
Trans fats có mặt trong nhiều đồ ăn chiên rán, bánh kẹo, pizza, bơ thực vật... Trans fats làm tăng LDL (cholesterol xấu) và giảm HDL (cholesterol tốt). Vì thế, nó làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch, tiẻu đường.
Chất béo bã hòa có trong các thực phẩm từ động vật như thịt, sữa và các sản phẩm từ sữa như kem, bơ, pho mát... Chúng cũng được tìm thấy trong đồ ăn nướng, chiên rán và một số thực phẩm từ thực vật như tinh dầu cọ, tinh dầu dừa..
Đề phòng những ổ vi trùng trong phòng bé
1. Thảm trải sàn
Thảm trải sàn trong phòng bé hoặc nơi bé hay chơi đùa dù làm bằng chất liệu gì cũng rất dễ là nơi trú ngụ lý tưởng của bụi bẩn và vi trùng, vi khuẩn. Nhưng đây cũng là nơi bé tiếp xúc nhiều lần trong ngày với tất cả các bộ phận, từ chân, tay, bụng, lưng, đầu cho đến mắt, mũi, tai…
Vì thế, mỗi lần thảm trải sàn bị đổ thức ăn hoặc dây bẩn trên bề mặt, bạn cần làm sạch ngay vi khuẩn, vi trùng không có điều kiện sinh sôi và gây bệnh. Cũng cần hút bụi và làm sạch thảm 3 – 4 lần mỗi tuần để “đuổi” các tác nhân mang mầm bệnh cho bé nêu trên. Ngoài ra, bạn cũng nên giặt thảm, phơi nắng hoặc thay mới tối thiểu 3 tháng/lần để đảm bảo sức khỏe cho bé.
2. Đồ chơi
Các bé rất hay ngậm đồ chơi trong miệng rồi làm rớt xuống sàn, sau đó nhặt lên rồi lại cho vào miệng. Như vậy, đồ chơi có thể tiếp xúc trực tiếp với cơ thể và các khí quan của bé nên rất dễ trở thành vật trung gian truyền mầm bệnh cho bé.
Bạn cần thường xuyên lau chùi, làm sạch và đảm bảo trước khi bé tiếp xúc, đồ chơi đã được vệ sinh sạch sẽ. Với đồ chơi bằng nhựa cứng, bạn có thể cho vào máy rửa bát để làm sạch và sấy khô, bạn sẽ tiết kiệm được thời gian và công sức hơn. Ở các nước phương Tây, các bà mẹ còn khử trùng đồ chơi cho con bằng loại hóa chất chuyên dụng và không độc hại.
Ngoài ra, bạn cần chú ý khi chọn mua đồ chơi cho con, bởi trên thị trường hiện nay có nhiều loại đồ chơi được làm từ nguyên liệu không đảm bảo hoặc có mang hóa chất độc hại. Bạn nên tìm hiểu kỹ về nguyên liệu, xuất xứ và nhà sản xuất trước khi quyết định mua đồ chơi cho con.
3. Ngăn kéo đựng quần áo
Đừng vội nghĩ ngăn kéo đựng quần áo là nơi an toàn bởi đây lại là nơi “tích trữ” một số loại vi khuẩn E. coli (loại vi khuẩn gây ra bệnh tiêu chảy). Lời khuyên của các bác sĩ là bạn nên thường xuyên lau chùi và dọn dẹp tủ đựng quần áo của bé, đặc biệt là mặt tủ và ngăn kéo.
4. Thú nhồi bông
Cũng giống như thảm trải sàn, thú nhồi bông được ví như tấm bọt biển hút các loại bụi bẩn, vi khuẩn, vi trùng. Các bé lại rất thích thú nhồi bông và thường xuyên ôm ấp, nựng nịu loại đồ chơi này suốt cả ngày, kể cả khi đi ngủ. Các sợi bông trên thú nhồi bông cũng có thể dính lên quần áo hoặc “chui” vào mũi bé gây ngứa ngáy, khó chịu.
Để giữ cho thú nhồi bông của bé đảm bảo vệ sinh, ít nhất 3 tuần một lần bạn cần làm sạch chúng trong nước ấm và xà phòng, sau đó phơi dưới nắng to hoặc sấy khô trong 45 phút.
Nếu bạn quá bận rộn mà không thể làm sạch thú nhồi bông theo cách trên, có thể “chữa cháy” bằng cách sấy trong tủ sấy nóng trong khoảng 45 phút.
Thảm trải sàn trong phòng bé hoặc nơi bé hay chơi đùa dù làm bằng chất liệu gì cũng rất dễ là nơi trú ngụ lý tưởng của bụi bẩn và vi trùng, vi khuẩn. Nhưng đây cũng là nơi bé tiếp xúc nhiều lần trong ngày với tất cả các bộ phận, từ chân, tay, bụng, lưng, đầu cho đến mắt, mũi, tai…
Vì thế, mỗi lần thảm trải sàn bị đổ thức ăn hoặc dây bẩn trên bề mặt, bạn cần làm sạch ngay vi khuẩn, vi trùng không có điều kiện sinh sôi và gây bệnh. Cũng cần hút bụi và làm sạch thảm 3 – 4 lần mỗi tuần để “đuổi” các tác nhân mang mầm bệnh cho bé nêu trên. Ngoài ra, bạn cũng nên giặt thảm, phơi nắng hoặc thay mới tối thiểu 3 tháng/lần để đảm bảo sức khỏe cho bé.
2. Đồ chơi
Các bé rất hay ngậm đồ chơi trong miệng rồi làm rớt xuống sàn, sau đó nhặt lên rồi lại cho vào miệng. Như vậy, đồ chơi có thể tiếp xúc trực tiếp với cơ thể và các khí quan của bé nên rất dễ trở thành vật trung gian truyền mầm bệnh cho bé.
Bạn cần thường xuyên lau chùi, làm sạch và đảm bảo trước khi bé tiếp xúc, đồ chơi đã được vệ sinh sạch sẽ. Với đồ chơi bằng nhựa cứng, bạn có thể cho vào máy rửa bát để làm sạch và sấy khô, bạn sẽ tiết kiệm được thời gian và công sức hơn. Ở các nước phương Tây, các bà mẹ còn khử trùng đồ chơi cho con bằng loại hóa chất chuyên dụng và không độc hại.
Ngoài ra, bạn cần chú ý khi chọn mua đồ chơi cho con, bởi trên thị trường hiện nay có nhiều loại đồ chơi được làm từ nguyên liệu không đảm bảo hoặc có mang hóa chất độc hại. Bạn nên tìm hiểu kỹ về nguyên liệu, xuất xứ và nhà sản xuất trước khi quyết định mua đồ chơi cho con.
3. Ngăn kéo đựng quần áo
Đừng vội nghĩ ngăn kéo đựng quần áo là nơi an toàn bởi đây lại là nơi “tích trữ” một số loại vi khuẩn E. coli (loại vi khuẩn gây ra bệnh tiêu chảy). Lời khuyên của các bác sĩ là bạn nên thường xuyên lau chùi và dọn dẹp tủ đựng quần áo của bé, đặc biệt là mặt tủ và ngăn kéo.
4. Thú nhồi bông
Cũng giống như thảm trải sàn, thú nhồi bông được ví như tấm bọt biển hút các loại bụi bẩn, vi khuẩn, vi trùng. Các bé lại rất thích thú nhồi bông và thường xuyên ôm ấp, nựng nịu loại đồ chơi này suốt cả ngày, kể cả khi đi ngủ. Các sợi bông trên thú nhồi bông cũng có thể dính lên quần áo hoặc “chui” vào mũi bé gây ngứa ngáy, khó chịu.
Để giữ cho thú nhồi bông của bé đảm bảo vệ sinh, ít nhất 3 tuần một lần bạn cần làm sạch chúng trong nước ấm và xà phòng, sau đó phơi dưới nắng to hoặc sấy khô trong 45 phút.
Nếu bạn quá bận rộn mà không thể làm sạch thú nhồi bông theo cách trên, có thể “chữa cháy” bằng cách sấy trong tủ sấy nóng trong khoảng 45 phút.
Dinh dưỡng cho bé bị ho
Thực phẩm cho bé bị ho
Trong lúc bệnh, bé rất cần ăn những món có nhiều nước, dễ tiêu nhưng cũng đầy đủ dưỡng chất như soup, cháo, sữa... đảm bảo bốn nhóm (bột, béo, đạm, rau) và phù hợp với khẩu vị hàng ngày của bé. Thức ăn có nhiều nước giúp làm loãng đờm nhớt ở bé, không bị kích thích ho nhiều.
Bên cạnh đó, bé cũng rất cần tăng sức đề kháng để chống bệnh. Vì thế, nên cho bé ăn những thực phẩm giàu sinh tố A, giàu chất kẽm và chất sắt như các loại thịt bò, gà, trứng, rau có màu xanh, đỏ. Cần hạn chế những món ăn chế biến có quá nhiều mỡ như chiên, xào… Đối với món cá, đôi khi bé có cảm giác tanh, dễ gây nôn, do vậy nên đợi sau khi bé hết bệnh hãy cho ăn trở lại.
Cách cho bé ăn
Bé bị ho nhiều có thể nôn ra thức ăn vừa mới ăn xong kèm theo nhiều đờm nhớt; vì thế trước khi cho bé ăn nên cho uống vài thìa nước, sau đó cho con nằm sấp rồi vỗ về lưng bé nhằm giúp đờm nhớt không còn đọng ở cổ bé. Điều này giúp bé đỡ ho và không bị nôn khi ăn.
Mẹ nên chia bữa ăn ra làm nhiều lần, mỗi lần cho con ăn một chút, tránh để bé ăn quá no thành ra dễ bị nôn trớ.
Cha mẹ cần chú ý
Bác sĩ Lê Hà (Khoa chăm sóc trẻ sau sinh, bệnh viện phụ sản An Thịnh) cho biết: "Mùa lạnh, cha mẹ cần giữ ấm thân thể cho trẻ, tránh để bị lạnh, bị ẩm đột ngột, kéo dài cho con. Giữ vệ sinh sạch sẽ trong việc ăn, ở, cải tạo môi trường trong lành, tránh ô nhiễm… Nên tránh để bé tiếp xúc với những người bị cảm hay viêm họng, mũi cấp tính".
Ngoài ra, bác sĩ còn cho biết thêm: Khi bé bị bệnh cần đến các cơ sở y tế để được bác sĩ khám và điều trị bệnh. Điều trị đúng, đủ để giải quyết triệt để các ổ viêm ở mũi họng gây ra ho. Các bậc phụ huynh cần nhớ, không phải con cứ ho là cho uống kháng sinh. Vì việc lạm dụng kháng sinh ngoài các tác dụng phụ từng được nhắc đến rất nhiều như diệt vi khuẩn có lợi, không diệt được vi khuẩn có hại còn gây mệt mỏi, chán ăn cho trẻ. Trẻ ốm, đây là khoảng thời gian cần khôi phục lại sức lực, sức đề kháng mà cơ thể lại bị kháng sinh làm cho suy yếu thì rất nguy hiểm".
Trong lúc bệnh, bé rất cần ăn những món có nhiều nước, dễ tiêu nhưng cũng đầy đủ dưỡng chất như soup, cháo, sữa... đảm bảo bốn nhóm (bột, béo, đạm, rau) và phù hợp với khẩu vị hàng ngày của bé. Thức ăn có nhiều nước giúp làm loãng đờm nhớt ở bé, không bị kích thích ho nhiều.
Bên cạnh đó, bé cũng rất cần tăng sức đề kháng để chống bệnh. Vì thế, nên cho bé ăn những thực phẩm giàu sinh tố A, giàu chất kẽm và chất sắt như các loại thịt bò, gà, trứng, rau có màu xanh, đỏ. Cần hạn chế những món ăn chế biến có quá nhiều mỡ như chiên, xào… Đối với món cá, đôi khi bé có cảm giác tanh, dễ gây nôn, do vậy nên đợi sau khi bé hết bệnh hãy cho ăn trở lại.
Cách cho bé ăn
Bé bị ho nhiều có thể nôn ra thức ăn vừa mới ăn xong kèm theo nhiều đờm nhớt; vì thế trước khi cho bé ăn nên cho uống vài thìa nước, sau đó cho con nằm sấp rồi vỗ về lưng bé nhằm giúp đờm nhớt không còn đọng ở cổ bé. Điều này giúp bé đỡ ho và không bị nôn khi ăn.
Mẹ nên chia bữa ăn ra làm nhiều lần, mỗi lần cho con ăn một chút, tránh để bé ăn quá no thành ra dễ bị nôn trớ.
Cha mẹ cần chú ý
Bác sĩ Lê Hà (Khoa chăm sóc trẻ sau sinh, bệnh viện phụ sản An Thịnh) cho biết: "Mùa lạnh, cha mẹ cần giữ ấm thân thể cho trẻ, tránh để bị lạnh, bị ẩm đột ngột, kéo dài cho con. Giữ vệ sinh sạch sẽ trong việc ăn, ở, cải tạo môi trường trong lành, tránh ô nhiễm… Nên tránh để bé tiếp xúc với những người bị cảm hay viêm họng, mũi cấp tính".
Ngoài ra, bác sĩ còn cho biết thêm: Khi bé bị bệnh cần đến các cơ sở y tế để được bác sĩ khám và điều trị bệnh. Điều trị đúng, đủ để giải quyết triệt để các ổ viêm ở mũi họng gây ra ho. Các bậc phụ huynh cần nhớ, không phải con cứ ho là cho uống kháng sinh. Vì việc lạm dụng kháng sinh ngoài các tác dụng phụ từng được nhắc đến rất nhiều như diệt vi khuẩn có lợi, không diệt được vi khuẩn có hại còn gây mệt mỏi, chán ăn cho trẻ. Trẻ ốm, đây là khoảng thời gian cần khôi phục lại sức lực, sức đề kháng mà cơ thể lại bị kháng sinh làm cho suy yếu thì rất nguy hiểm".
Bổ sung thực phẩm giàu chất sắt tránh bé bị thiếu máu
Dấu hiệu và triệu chứng của thiếu máu
Thông thường trẻ bị thiếu sắt không có bất kỳ dấu hiệu và triệu chứng nào do lượng sắt dự trữ trong cơ thể sụt giảm chậm. Khi bệnh đã chuyển sang thiếu máu, bạn có thể nhận thấy những dấu hiệu dưới đây của trẻ.
Trẻ trở nên suy yếu, kém hoạt bát, mệt mỏi hay quấy khóc, dễ cáu kỉnh. Vẻ ngoài trẻ cũng thay đổi: nước da xanh và niêm mạc nhợt nhạt. Ngoài ra trẻ còn trở nên biếng ăn, bị chóng mặt hay cảm thấy có đốm sáng trước mặt.
Thiếu máu do thiết sắt nếu nặng sẽ làm trẻ chậm phát triển thể chất và khả năng vận động (chậm biết ngồi, đứng, đi), tóc thưa dễ gãy, dễ rụng, móng tay, móng chân biến dạng, gan lách to...
Trẻ còn bị giảm sức đề kháng, dễ mắc các bệnh nhiễm trùng nhưng quan trọng nhất là làm giảm chỉ số thông minh, giảm khả năng tư duy, sáng tạo, kết quả học tập kém.
Bổ sung chất sắt cho bé
Thông thường, bé mới tập đi cần 7mg sắt mỗi ngày. Chất sắt đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên hemoglobin (sắc tố đỏ chứa oxy có trong máu), và myoglobin (sắc tố chứa oxy có trong cơ). Thiếu sắt có thể dẫn đến thiếu máu làm cơ thể mệt mỏi, suy yếu, chóng mặt hoa mắt, cáu gắt, da dẻ xanh xao, môi khô… Sắt cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của não.
Cần lưu ý rằng sự khác biệt giữa chất sắt có trong thực vật và chất sắt có trong động vật. Sắt Heme - loại chất sắt có trong động vật như thịt, cá, tôm, cua, nghêu, sò, thịt các loại gia cầm… dễ hấp thụ đối với cơ thể. Nhưng loại chất sắt cơ thể cần lại không phải là Heme mà là một loại khác có trong các loại rau màu xanh đậm, đậu và các loại hoa quả sấy khô…(lòng đỏ trứng cũng chứa chất sắc, hầu hết là chất sắc thực vật).
Bạn có thể tăng cường thêm chất sắt thực vật bằng cách cho bé ăn nhiều thực phẩm có chứa sắt Heme. Thực phẩm giàu vi-ta-min C như các loại rau quả nước cam, cam, dâu Tây, tiêu đỏ, đu đủ, bông cải xanh, nho, dưa lưới, xoài, cà chua và khoai tây cũng có thể giúp tăng cường chất sắc thực vật..
Một số nguồn cung cấp chất sắt tốt nhất cho bé:
¼ tách rau biển (bao gồm các loại tảo, rong biển)
1/3 tách bột ngũ cốc pha sẵn: 4.5mg
1/3 tách bột yến mạch pha sẵn: 4mg
¼ tách sữa đậu nành: 2.2mg
¼ chén thịt heo, đậu nướng và nước sốt cà chua: 2mg
¼ tách đậu xanh
28g thịt thái lát nướng: 1mg
28g tôm: 9mg
½ bánh mì hamburger loại vừa (khoảng 43g): 9mg
¼ tách đậu đen: 9mg
1 thìa súp mầm lúa mì: 5mg
¼ chén đậu phụ: 9mg (lượng dưỡng chất sẽ khác nhau tùy vào từng loại đậu phụ.)
½ quả trứng lớn: 3mg
28g thịt ức gà: 2mg
Lưu ý : Số mg sẽ thay đổi tùy vào dụng cụ đo lường, chất lượng thực phẩm và nhãn hàng...
Thông thường trẻ bị thiếu sắt không có bất kỳ dấu hiệu và triệu chứng nào do lượng sắt dự trữ trong cơ thể sụt giảm chậm. Khi bệnh đã chuyển sang thiếu máu, bạn có thể nhận thấy những dấu hiệu dưới đây của trẻ.
Trẻ trở nên suy yếu, kém hoạt bát, mệt mỏi hay quấy khóc, dễ cáu kỉnh. Vẻ ngoài trẻ cũng thay đổi: nước da xanh và niêm mạc nhợt nhạt. Ngoài ra trẻ còn trở nên biếng ăn, bị chóng mặt hay cảm thấy có đốm sáng trước mặt.
Thiếu máu do thiết sắt nếu nặng sẽ làm trẻ chậm phát triển thể chất và khả năng vận động (chậm biết ngồi, đứng, đi), tóc thưa dễ gãy, dễ rụng, móng tay, móng chân biến dạng, gan lách to...
Trẻ còn bị giảm sức đề kháng, dễ mắc các bệnh nhiễm trùng nhưng quan trọng nhất là làm giảm chỉ số thông minh, giảm khả năng tư duy, sáng tạo, kết quả học tập kém.
Bổ sung chất sắt cho bé
Thông thường, bé mới tập đi cần 7mg sắt mỗi ngày. Chất sắt đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên hemoglobin (sắc tố đỏ chứa oxy có trong máu), và myoglobin (sắc tố chứa oxy có trong cơ). Thiếu sắt có thể dẫn đến thiếu máu làm cơ thể mệt mỏi, suy yếu, chóng mặt hoa mắt, cáu gắt, da dẻ xanh xao, môi khô… Sắt cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của não.
Cần lưu ý rằng sự khác biệt giữa chất sắt có trong thực vật và chất sắt có trong động vật. Sắt Heme - loại chất sắt có trong động vật như thịt, cá, tôm, cua, nghêu, sò, thịt các loại gia cầm… dễ hấp thụ đối với cơ thể. Nhưng loại chất sắt cơ thể cần lại không phải là Heme mà là một loại khác có trong các loại rau màu xanh đậm, đậu và các loại hoa quả sấy khô…(lòng đỏ trứng cũng chứa chất sắc, hầu hết là chất sắc thực vật).
Bạn có thể tăng cường thêm chất sắt thực vật bằng cách cho bé ăn nhiều thực phẩm có chứa sắt Heme. Thực phẩm giàu vi-ta-min C như các loại rau quả nước cam, cam, dâu Tây, tiêu đỏ, đu đủ, bông cải xanh, nho, dưa lưới, xoài, cà chua và khoai tây cũng có thể giúp tăng cường chất sắc thực vật..
Một số nguồn cung cấp chất sắt tốt nhất cho bé:
¼ tách rau biển (bao gồm các loại tảo, rong biển)
1/3 tách bột ngũ cốc pha sẵn: 4.5mg
1/3 tách bột yến mạch pha sẵn: 4mg
¼ tách sữa đậu nành: 2.2mg
¼ chén thịt heo, đậu nướng và nước sốt cà chua: 2mg
¼ tách đậu xanh
28g thịt thái lát nướng: 1mg
28g tôm: 9mg
½ bánh mì hamburger loại vừa (khoảng 43g): 9mg
¼ tách đậu đen: 9mg
1 thìa súp mầm lúa mì: 5mg
¼ chén đậu phụ: 9mg (lượng dưỡng chất sẽ khác nhau tùy vào từng loại đậu phụ.)
½ quả trứng lớn: 3mg
28g thịt ức gà: 2mg
Lưu ý : Số mg sẽ thay đổi tùy vào dụng cụ đo lường, chất lượng thực phẩm và nhãn hàng...
Bổ sung vitamin D cho bé bằng các món nấm
Tác dụng của vitamin D
Vitamin D giúp hệ xương và tim mạch bé được khỏe mạnh; đồng thời, nó cũng ngăn ngừa chứng hen suyễn, tiểu đường hoặc ung thư cho bé.
Tùy từng giai đoạn phát triển, nhu cầu vitamin D mỗi ngày của bé khoảng 5-15mg. Nếu thiếu hụt vitamin D, bé sẽ dễ bị còi xương hoặc mắc phải chứng xương mềm, dễ gãy. Để việc tổng hợp vitamin D trong cơ thể tốt hơn, cha mẹ cũng nên lưu ý đến chế độ tắm nắng hàng ngày cho bé. Một số thực phẩm khác như trứng, cá, sữa, ngũ cốc cũng dồi dào vitamin D với cơ thể bé.
1. Súp gà nấm hương (dành cho bé 7-12 tháng tuổi)
Nguyên liệu: Thịt gà nạc xay nhuyễn (15g, tương đương với một thìa canh); Nấm hương xay nhuyễn (1-2 cái); Mộc nhĩ xay nhuyễn (1 cánh bé); Nước dùng (200ml); Trứng cút (1 quả); Bột sắn (1 thìa cafe).
Thực hiện: Trước tiên, bạn cho thịt gà vào nồi nước dùng, đun sôi lên. Sau đó, bạn cho tiếp nấm hương, mộc nhĩ, một bát nước đã được hòa với bột sắn vào nồi, chờ sôi lại trong ít phút.
Cuối cùng, bạn cho lòng đỏ trứng cút đã được hòa với một chút nước vào nồi. Khi thấy súp sôi trở lại, bạn bắc nồi xuống, nêm một chút muối. Chờ nguội một chút, bạn mới nên đổ súp ra bát và cho bé dùng.
Các món nấm giúp bổ sung vitamin D cho bé vào mùa đông 1
2. Cháo gà – nấm rơm (dành cho bé 9-12 tháng tuổi)
Nguyên liệu: Gạo tẻ xay nhuyễn (20g, tương đương 2 thìa canh); Thịt gà nạc xay nhuyễn (15g, tương đương 1 thìa canh); Nấm rơm xay nhuyễn (1-2 cái); Dầu ăn (2 thìa cafe); Nước (250ml); Gia vị (nước mắm hoặc muối).
Thực hiện: Trước tiên, bạn đổ cháo và nước vào nồi, đun cho sôi.
Bạn hòa (trộn) nấm và thịt gà đã được xay nhuyễn vào một bát nước. Sau đó, bạn đổ bát nấm, thịt gà này vào nồi cháo đang sôi và chờ cho cháo sôi lại trong vài phút.
Sau khi đổ cháo ra bát, bạn mới trộn dầu ăn vào. Bạn có thể nêm vào bát cháo của bé một chút muối (hoặc một chút mắm, tránh để cháo bị mặn). Sau đó, bạn có thể cho bé thưởng thức.
Lưu ý: Khi sơ chế, bạn nên ngâm nấm với nước muối pha loãng trong vòng 5-10 phút. Sau đó, bạn rửa nấm thật sạch trước khi tiến hành xay nhuyễn nấm.
- Nhiều người mẹ lo ngại nấm có thể gây ngộ độc hoặc dị ứng cho bé. Tuy nhiên, các chuyên gia khuyến cáo, nấm không nằm trong nhóm những loại thực phẩm cần tránh trong giai đoạn bé ăn dặm. Tuy nhiên, bạn nên lưu ý khi chọn mua nấm để tránh những loại nấm độc (không rõ nguồn gốc) có thể nguy hiểm cho sức khỏe của bé.
- Các món trên hoàn toàn phù hợp cho bé lớn hơn (trên 1 tuổi). Với bé trên 2 tuổi, bạn có thể cho bé ăn canh nấm, nấm xào như người lớn hoặc bạn chế biến súp nấm, cháo nấm thành những món phụ cho bé.
Vitamin D giúp hệ xương và tim mạch bé được khỏe mạnh; đồng thời, nó cũng ngăn ngừa chứng hen suyễn, tiểu đường hoặc ung thư cho bé.
Tùy từng giai đoạn phát triển, nhu cầu vitamin D mỗi ngày của bé khoảng 5-15mg. Nếu thiếu hụt vitamin D, bé sẽ dễ bị còi xương hoặc mắc phải chứng xương mềm, dễ gãy. Để việc tổng hợp vitamin D trong cơ thể tốt hơn, cha mẹ cũng nên lưu ý đến chế độ tắm nắng hàng ngày cho bé. Một số thực phẩm khác như trứng, cá, sữa, ngũ cốc cũng dồi dào vitamin D với cơ thể bé.
1. Súp gà nấm hương (dành cho bé 7-12 tháng tuổi)
Nguyên liệu: Thịt gà nạc xay nhuyễn (15g, tương đương với một thìa canh); Nấm hương xay nhuyễn (1-2 cái); Mộc nhĩ xay nhuyễn (1 cánh bé); Nước dùng (200ml); Trứng cút (1 quả); Bột sắn (1 thìa cafe).
Thực hiện: Trước tiên, bạn cho thịt gà vào nồi nước dùng, đun sôi lên. Sau đó, bạn cho tiếp nấm hương, mộc nhĩ, một bát nước đã được hòa với bột sắn vào nồi, chờ sôi lại trong ít phút.
Cuối cùng, bạn cho lòng đỏ trứng cút đã được hòa với một chút nước vào nồi. Khi thấy súp sôi trở lại, bạn bắc nồi xuống, nêm một chút muối. Chờ nguội một chút, bạn mới nên đổ súp ra bát và cho bé dùng.
Các món nấm giúp bổ sung vitamin D cho bé vào mùa đông 1
2. Cháo gà – nấm rơm (dành cho bé 9-12 tháng tuổi)
Nguyên liệu: Gạo tẻ xay nhuyễn (20g, tương đương 2 thìa canh); Thịt gà nạc xay nhuyễn (15g, tương đương 1 thìa canh); Nấm rơm xay nhuyễn (1-2 cái); Dầu ăn (2 thìa cafe); Nước (250ml); Gia vị (nước mắm hoặc muối).
Thực hiện: Trước tiên, bạn đổ cháo và nước vào nồi, đun cho sôi.
Bạn hòa (trộn) nấm và thịt gà đã được xay nhuyễn vào một bát nước. Sau đó, bạn đổ bát nấm, thịt gà này vào nồi cháo đang sôi và chờ cho cháo sôi lại trong vài phút.
Sau khi đổ cháo ra bát, bạn mới trộn dầu ăn vào. Bạn có thể nêm vào bát cháo của bé một chút muối (hoặc một chút mắm, tránh để cháo bị mặn). Sau đó, bạn có thể cho bé thưởng thức.
Lưu ý: Khi sơ chế, bạn nên ngâm nấm với nước muối pha loãng trong vòng 5-10 phút. Sau đó, bạn rửa nấm thật sạch trước khi tiến hành xay nhuyễn nấm.
- Nhiều người mẹ lo ngại nấm có thể gây ngộ độc hoặc dị ứng cho bé. Tuy nhiên, các chuyên gia khuyến cáo, nấm không nằm trong nhóm những loại thực phẩm cần tránh trong giai đoạn bé ăn dặm. Tuy nhiên, bạn nên lưu ý khi chọn mua nấm để tránh những loại nấm độc (không rõ nguồn gốc) có thể nguy hiểm cho sức khỏe của bé.
- Các món trên hoàn toàn phù hợp cho bé lớn hơn (trên 1 tuổi). Với bé trên 2 tuổi, bạn có thể cho bé ăn canh nấm, nấm xào như người lớn hoặc bạn chế biến súp nấm, cháo nấm thành những món phụ cho bé.
Cách chăm sóc khi bé bị hôi miệng
Các nguyên nhân cơ bản gây mùi khó chịu trong miệng
- Vệ sinh răng miệng kém: Những loại vi khuẩn thông thường, cư trú trong khoang miệng, sẽ phản ứng với những mảng thức ăn bám trên răng, lợi, lưỡi và bề mặt cuống họng. Sự tác động này khiến hơi thở bé có mùi hôi, đặc biệt là khi những mảng bám thức ăn không được loại bỏ trong thời gian dài.
- Miệng bé bị khô: Nếu bé thở qua miệng liên tục (do bé bị chảy nước mũi chẳng hạn) thì sau đó, vi khuẩn và môi trường trong khoang miệng của bé sẽ bị xáo trộn.
- Có vật lạ: Một hạt lê, hạt đậu, đồ chơi nhỏ hoặc những đồ vật khác “định cư” trong mũi của bé, có thể gây nên chứng hôi miệng. Tình trạng này rất dễ xảy ra với nhóm bé nhỏ hơn 4 tuổi (độ tuổi chưa đủ nhận thức để phân biệt hành vi nhét một hạt đậu vào lỗ mũi là nguy hiểm).
- Mút ngón tay: Hành vi này vô tình đưa vi khuẩn từ bên ngoài và khiến bé bị nhiễm khuẩn khoang miệng.
- Bị bệnh hoặc dị ứng: Một số bệnh như nhiễm trùng xoang, viêm amidan và thậm chí cả chứng dị ứng thời tiết cũng gây hôi miệng cho bé. Một số bé hay bị ợ hơi cũng dễ phải đối mặt với chứng hôi miệng.
- Sử dụng thức ăn có mùi: Hành, tỏi hoặc một số loại gia vị có mùi khó chịu khác có thể xâm nhập và làm “nhiễu” hơi thở của bé, khiến bé “nặng mùi”.
Cách chăm sóc bé
Trong phần lớn trường hợp, việc vệ sinh răng miệng tốt sẽ giúp hơi thở của bé thơm tho hơn. Giai đoạn 3-4 tuổi, bạn nên hướng dẫn bé cách tự đánh răng hoặc bạn có thể giúp đỡ bé hoàn thành phần việc này. Ngoài ra, bạn cũng nên giúp bé vệ sinh lưỡi bằng dụng cụ làm sạch lưỡi chuyên dụng.
Chỉ nên cho bé dùng một lượng kem đánh răng nhỏ. Các chuyên gia khuyên rằng, cha mẹ nên sử dụng một lượng kem đánh răng không lớn hơn hạt đậu Hà Lan trong mỗi lần đánh răng của bé (đặc biệt với loại kem chứa flour thì càng nên hạn chế). Bởi vì, việc dùng quá nhiều kem đánh răng sẽ gây nên những đốm trắng trên răng bé, khi bé lớn hơn; đồng thời, bạn nên chọn loại kem đánh răng có hương vị tự nhiên mà bé yêu thích.
Nên cho bé đi khám nha khoa theo định kỳ (khoảng mỗi 6 tháng một lần), giúp răng bé luôn sạch và chắc khỏe. Ngoài ra, bác sĩ cũng sẽ xác định được dấu hiệu hôi miệng ở bé và có cách xử trí thích hợp.
Bạn nên giúp bé vệ sinh đôi tay thường xuyên bằng xà phòng và nước sạch, đề phòng bé có tật mút tay hoặc khi bé bốc thức ăn. Nếu bé có thói quen ngậm ti giả, bạn nên tìm cách giúp bé “cai” càng sớm càng tốt.
Nếu muốn dùng thuốc sát trùng để súc miệng cho bé, bạn nên trao đổi với bác sĩ. Các loại nước súc miệng chỉ có tác dụng “che đậy” mùi hôi một cách tạm thời chứ không thể giải quyết triệt để vấn đề. Chìa khóa dành cho bạn vẫn là khuyến khích bé vệ sinh răng miệng đúng cách và giúp bé điều trị các chứng bệnh về miệng (nếu có).
Cuối cùng, bạn không nên khiến bé mất tự tin vì chứng hôi miệng. Bạn nên giúp đỡ để bé không cảm thấy xấu hổ đến mức ngại giao tiếp.
- Vệ sinh răng miệng kém: Những loại vi khuẩn thông thường, cư trú trong khoang miệng, sẽ phản ứng với những mảng thức ăn bám trên răng, lợi, lưỡi và bề mặt cuống họng. Sự tác động này khiến hơi thở bé có mùi hôi, đặc biệt là khi những mảng bám thức ăn không được loại bỏ trong thời gian dài.
- Miệng bé bị khô: Nếu bé thở qua miệng liên tục (do bé bị chảy nước mũi chẳng hạn) thì sau đó, vi khuẩn và môi trường trong khoang miệng của bé sẽ bị xáo trộn.
- Có vật lạ: Một hạt lê, hạt đậu, đồ chơi nhỏ hoặc những đồ vật khác “định cư” trong mũi của bé, có thể gây nên chứng hôi miệng. Tình trạng này rất dễ xảy ra với nhóm bé nhỏ hơn 4 tuổi (độ tuổi chưa đủ nhận thức để phân biệt hành vi nhét một hạt đậu vào lỗ mũi là nguy hiểm).
- Mút ngón tay: Hành vi này vô tình đưa vi khuẩn từ bên ngoài và khiến bé bị nhiễm khuẩn khoang miệng.
- Bị bệnh hoặc dị ứng: Một số bệnh như nhiễm trùng xoang, viêm amidan và thậm chí cả chứng dị ứng thời tiết cũng gây hôi miệng cho bé. Một số bé hay bị ợ hơi cũng dễ phải đối mặt với chứng hôi miệng.
- Sử dụng thức ăn có mùi: Hành, tỏi hoặc một số loại gia vị có mùi khó chịu khác có thể xâm nhập và làm “nhiễu” hơi thở của bé, khiến bé “nặng mùi”.
Cách chăm sóc bé
Trong phần lớn trường hợp, việc vệ sinh răng miệng tốt sẽ giúp hơi thở của bé thơm tho hơn. Giai đoạn 3-4 tuổi, bạn nên hướng dẫn bé cách tự đánh răng hoặc bạn có thể giúp đỡ bé hoàn thành phần việc này. Ngoài ra, bạn cũng nên giúp bé vệ sinh lưỡi bằng dụng cụ làm sạch lưỡi chuyên dụng.
Chỉ nên cho bé dùng một lượng kem đánh răng nhỏ. Các chuyên gia khuyên rằng, cha mẹ nên sử dụng một lượng kem đánh răng không lớn hơn hạt đậu Hà Lan trong mỗi lần đánh răng của bé (đặc biệt với loại kem chứa flour thì càng nên hạn chế). Bởi vì, việc dùng quá nhiều kem đánh răng sẽ gây nên những đốm trắng trên răng bé, khi bé lớn hơn; đồng thời, bạn nên chọn loại kem đánh răng có hương vị tự nhiên mà bé yêu thích.
Nên cho bé đi khám nha khoa theo định kỳ (khoảng mỗi 6 tháng một lần), giúp răng bé luôn sạch và chắc khỏe. Ngoài ra, bác sĩ cũng sẽ xác định được dấu hiệu hôi miệng ở bé và có cách xử trí thích hợp.
Bạn nên giúp bé vệ sinh đôi tay thường xuyên bằng xà phòng và nước sạch, đề phòng bé có tật mút tay hoặc khi bé bốc thức ăn. Nếu bé có thói quen ngậm ti giả, bạn nên tìm cách giúp bé “cai” càng sớm càng tốt.
Nếu muốn dùng thuốc sát trùng để súc miệng cho bé, bạn nên trao đổi với bác sĩ. Các loại nước súc miệng chỉ có tác dụng “che đậy” mùi hôi một cách tạm thời chứ không thể giải quyết triệt để vấn đề. Chìa khóa dành cho bạn vẫn là khuyến khích bé vệ sinh răng miệng đúng cách và giúp bé điều trị các chứng bệnh về miệng (nếu có).
Cuối cùng, bạn không nên khiến bé mất tự tin vì chứng hôi miệng. Bạn nên giúp đỡ để bé không cảm thấy xấu hổ đến mức ngại giao tiếp.
Bật mí cách chăm sóc để con khỏe mạnh
1. Bỏ một ít muối vào chậu/ bồn tắm của trẻ
Rất nhiều trẻ em bị thiếu hụt magiê, nguyên tố vô cùng cần thiết cho sự phát triển của con người. Nếu con bạn có chế độ ăn lành mạnh, bé có thể không cần bổ sung magiê. Tuy vậy, bỏ một ít muối biển vào bồn tắm của bé là một cách tuyệt vời để tăng thêm lượng magiê cho cơ thể trẻ, do nguyên tố này có thể được hấp thụ dễ dàng qua da. Đồng thời, hỗn hợp này cũng giúp bé thư giãn và ngủ ngon hơn.
2. Tắt đèn khi ngủ
Việc tiếp xúc với ánh sáng nhân tạo khi ngủ có thể gây ra ung thư và một loạt các vấn đề khác. Ánh sáng nhân tạo dừng hoàn toàn quá trình sản xuất melatonin tự nhiên và làm ngắt quãng chu kỳ giấc ngủ. Thời gian trong khi ngủ là rất quan trọng cho việc sửa chữa mô và tăng trưởng tế bào, vì thế nếu chu trình này bị đứt quãng, cơ thể sẽ phải chịu những hậu quả về lâu dài.
Trong thực tế, một đêm bị mất ngủ hoặc giấc ngủ bị gián đoạn đã được chứng minh sẽ khiến một người khỏe mạnh có mức insulin bằng với người trong giai đoạn tiền tháo đường. Mất ngủ hoặc ngủ không ngon giấc cũng gây trở ngại cho hoạt động của tuyến yên và chu kỳ leptin, làm chậm quá trình phát triển chiều cao của trẻ.
Ngoài việc tắt hết đèn trong phòng ngủ, bố mẹ cũng nên loại bỏ tất cả các thiết bị phát ra ánh sáng xanh hoặc đỏ (ví dụ như đồng hồ kỹ thuật số). Không nên cho trẻ xem tivi hoặc sử dụng máy tính vào buổi đêm để quá trình sản xuất hormon tự nhiên diễn ra bình thường.
3. Để trẻ nghịch bùn đất với chân trần
Trong khi phương pháp này nghe có thể kỳ lạ với các bậc cha mẹ thì đối với con trẻ nó lại hoàn toàn bình thường. Một số hợp chất tự nhiên trong đất có thể tăng mức độ serotonin - chất góp phần cải thiện chất lượng giấc ngủ. Không chỉ có vậy, nhờ tương tác với bùn đất, trẻ em được tiếp xúc với những vi khuẩn tự nhiên có tác dụng tăng cường hệ thống miễn dịch. Thậm chí, một số bằng chứng còn cho thấy việc chơi với bùn đất thường xuyên giúp trẻ không bị mắc các chứng dị ứng và hen suyễn.
Một số thông tin còn cho thấy việc chơi trong bùn đất, cỏ hoặc cát với chân trần còn làm giảm những tác động gây ra do việc ở trong nhà lâu và tiếp xúc với điện từ trường trong thời gian dài. Các electron tích điện âm từ đất có thể tạo cân bằng cho cơ thể và cũng cải thiện giấc ngủ.
4. Chơi dưới ánh nắng mặt trời
Chúng ta thường bảo vệ con khỏi ánh nắng mặt trời bằng cách bôi đầy kem chống nắng cho bé mà không biết rằng đang làm hại chính con. Sử dụng kem chống nắng ngăn cản khả năng sản xuất vitamin D tự nhiên của cơ thể, trong khi vitamin D rất quan trọng cho hàng trăm phản ứng trong cơ thể, bao gồm cả phòng ngừa ung thư. Hầu hết các loại kem chống nắng thông thường đều chứa những chất hóa học độc hại, có thể trở nên nguy hiểm hơn việc phơi nắng vừa phải.
Hơn tất cả, trẻ em là đối tượng cần được cung cấp đủ lượng vitamin D nhất để củng cố hoạt động của hệ miễn dịch, phát triển hormon thích hợp, tăng trưởng xương và cơ bắp. Kem chống nắng dù có chỉ số SPF thấp cũng ngăn cản khả năng sản xuất vitamin D tự nhiên của cơ thể và thường đưa vào cơ thể trẻ rất nhiều hóa chất có hại.Miễn là con bạn đang có chế độ ăn khỏe mạnh, có thể ngăn ngừa các chứng viêm nhiễm và cháy nắng, việc cho bé tiếp xúc với ánh nắng mặt trời là rất quan trọng. Nếu bé buộc phải tiếp xúc với nắng trong thời gian dài, hãy đội mũ và mặc quần áo chống nắng cho bé, hoặc sử dụng một loại kem chống nắng có nguồn gốc tự nhiên.
5. Cho con ăn chất béo
Chúng ta thường được khuyên nên hạn chế việc nạp các chất béo bão hòa vào cơ thể, thay vào đó nên sử dụng những chất béo có lợi cho sức khỏe như dầu thực vật. Đáng buồn thay, việc hạn chế chất béo bão hòa, đặc biệt là ở trẻ nhỏ, lại có hại hơn là có lợi, và trẻ con thực sự cần chúng để phát triển một cách toàn diện.
Những chất béo như dầu thực vật, bơ thực vật (margarine) trong quá trình sản xuất đã trải qua rất nhiều quy trình hóa học, chúng dễ bị oxy hóa dưới ánh nắng mặt trời, và chứa rất nhiều lượng chất bẽo không bão hòa đa mà cơ thể không thể xử lý hết và cũng không cần đến. Lượng chất béo này bao bọc các tế bào và là nguyên nhân gây ra các bệnh về tim mạch, mỡ máu, béo phì, v.v. Trong khi đó, những chất béo tự nhiên như bơ động vật, dầu dừa, mỡ động vật không trải qua quá trình hóa chất này, và chứa lượng chất béo bão hòa cần thiết cho cơ thể. Chúng giúp cân bằng lượng hormon, củng cố sự phát triển não và xương của trẻ.
6. Cân bằng các lợi khuẩn đường ruột
Khi chào đời, trẻ sơ sinh thừa hưởng những vi khuẩn đường ruột có lợi từ người mẹ khỏe mạnh. Tuy vậy, nếu người mẹ không có những lợi khuẩn lý tưởng, sử dụng thuốc kháng sinh khi còn nhỏ, hoặc có chế độ ăn nghèo nàn trong thời kỳ mang thai, trẻ sinh ra sẽ chịu một số bất lợi về tiêu hóa nói riêng và sức khỏe nói chung.
Vì vậy, việc bổ sung những chế phẩm chứa các lợi khuẩn là rất quan trọng cho trẻ. Một số thực phẩm tốt bao gồm sữa chua, thực phẩm lên men, nước hoa quả tự nhiên, v.v...
7. Hạn chế việc sử dụng các hóa chất có hại cho trẻ
Rất nhiều sản phẩm dùng cho trẻ, từ kem chống nắng, xịt chống côn trùng đến dầu gội, sữa tắm, kem đánh răng đều có chứa các chất hóa học độc hại. Bố mẹ có thể tránh tác hại của chúng đến trẻ bằng cách sử dụng các biện pháp thay thế có nguồn gốc tự nhiên.
9. Cho trẻ vận động một cách tự nhiên
Trẻ nhỏ có xu hướng thích đùa nghịch và vận động tự nhiên, tuy vậy, bố mẹ thường phá hủy niềm vui thích này với việc cho trẻ tham gia vào các hoạt động thể thao quy củ quá sớm. Hầu hết các bé đều thích chạy, đu xà, leo trèo, và thử thách bản thân bằng cách nhấc những vật nặng. Trẻ không thực sự cần các chế độ luyện tập để mô phỏng các động tác giúp các bé phát triển cơ bắp một cách tự nhiên. Tất cả những gì trẻ cần là cây cối, cột xà ngang, dây để trèo, và những vật nặng để chơi. Như thế, bé có thể vừa chơi vui vừa rèn luyện sức khỏe.
Rất nhiều trẻ em bị thiếu hụt magiê, nguyên tố vô cùng cần thiết cho sự phát triển của con người. Nếu con bạn có chế độ ăn lành mạnh, bé có thể không cần bổ sung magiê. Tuy vậy, bỏ một ít muối biển vào bồn tắm của bé là một cách tuyệt vời để tăng thêm lượng magiê cho cơ thể trẻ, do nguyên tố này có thể được hấp thụ dễ dàng qua da. Đồng thời, hỗn hợp này cũng giúp bé thư giãn và ngủ ngon hơn.
2. Tắt đèn khi ngủ
Việc tiếp xúc với ánh sáng nhân tạo khi ngủ có thể gây ra ung thư và một loạt các vấn đề khác. Ánh sáng nhân tạo dừng hoàn toàn quá trình sản xuất melatonin tự nhiên và làm ngắt quãng chu kỳ giấc ngủ. Thời gian trong khi ngủ là rất quan trọng cho việc sửa chữa mô và tăng trưởng tế bào, vì thế nếu chu trình này bị đứt quãng, cơ thể sẽ phải chịu những hậu quả về lâu dài.
Trong thực tế, một đêm bị mất ngủ hoặc giấc ngủ bị gián đoạn đã được chứng minh sẽ khiến một người khỏe mạnh có mức insulin bằng với người trong giai đoạn tiền tháo đường. Mất ngủ hoặc ngủ không ngon giấc cũng gây trở ngại cho hoạt động của tuyến yên và chu kỳ leptin, làm chậm quá trình phát triển chiều cao của trẻ.
Ngoài việc tắt hết đèn trong phòng ngủ, bố mẹ cũng nên loại bỏ tất cả các thiết bị phát ra ánh sáng xanh hoặc đỏ (ví dụ như đồng hồ kỹ thuật số). Không nên cho trẻ xem tivi hoặc sử dụng máy tính vào buổi đêm để quá trình sản xuất hormon tự nhiên diễn ra bình thường.
3. Để trẻ nghịch bùn đất với chân trần
Trong khi phương pháp này nghe có thể kỳ lạ với các bậc cha mẹ thì đối với con trẻ nó lại hoàn toàn bình thường. Một số hợp chất tự nhiên trong đất có thể tăng mức độ serotonin - chất góp phần cải thiện chất lượng giấc ngủ. Không chỉ có vậy, nhờ tương tác với bùn đất, trẻ em được tiếp xúc với những vi khuẩn tự nhiên có tác dụng tăng cường hệ thống miễn dịch. Thậm chí, một số bằng chứng còn cho thấy việc chơi với bùn đất thường xuyên giúp trẻ không bị mắc các chứng dị ứng và hen suyễn.
Một số thông tin còn cho thấy việc chơi trong bùn đất, cỏ hoặc cát với chân trần còn làm giảm những tác động gây ra do việc ở trong nhà lâu và tiếp xúc với điện từ trường trong thời gian dài. Các electron tích điện âm từ đất có thể tạo cân bằng cho cơ thể và cũng cải thiện giấc ngủ.
4. Chơi dưới ánh nắng mặt trời
Chúng ta thường bảo vệ con khỏi ánh nắng mặt trời bằng cách bôi đầy kem chống nắng cho bé mà không biết rằng đang làm hại chính con. Sử dụng kem chống nắng ngăn cản khả năng sản xuất vitamin D tự nhiên của cơ thể, trong khi vitamin D rất quan trọng cho hàng trăm phản ứng trong cơ thể, bao gồm cả phòng ngừa ung thư. Hầu hết các loại kem chống nắng thông thường đều chứa những chất hóa học độc hại, có thể trở nên nguy hiểm hơn việc phơi nắng vừa phải.
Hơn tất cả, trẻ em là đối tượng cần được cung cấp đủ lượng vitamin D nhất để củng cố hoạt động của hệ miễn dịch, phát triển hormon thích hợp, tăng trưởng xương và cơ bắp. Kem chống nắng dù có chỉ số SPF thấp cũng ngăn cản khả năng sản xuất vitamin D tự nhiên của cơ thể và thường đưa vào cơ thể trẻ rất nhiều hóa chất có hại.Miễn là con bạn đang có chế độ ăn khỏe mạnh, có thể ngăn ngừa các chứng viêm nhiễm và cháy nắng, việc cho bé tiếp xúc với ánh nắng mặt trời là rất quan trọng. Nếu bé buộc phải tiếp xúc với nắng trong thời gian dài, hãy đội mũ và mặc quần áo chống nắng cho bé, hoặc sử dụng một loại kem chống nắng có nguồn gốc tự nhiên.
5. Cho con ăn chất béo
Chúng ta thường được khuyên nên hạn chế việc nạp các chất béo bão hòa vào cơ thể, thay vào đó nên sử dụng những chất béo có lợi cho sức khỏe như dầu thực vật. Đáng buồn thay, việc hạn chế chất béo bão hòa, đặc biệt là ở trẻ nhỏ, lại có hại hơn là có lợi, và trẻ con thực sự cần chúng để phát triển một cách toàn diện.
Những chất béo như dầu thực vật, bơ thực vật (margarine) trong quá trình sản xuất đã trải qua rất nhiều quy trình hóa học, chúng dễ bị oxy hóa dưới ánh nắng mặt trời, và chứa rất nhiều lượng chất bẽo không bão hòa đa mà cơ thể không thể xử lý hết và cũng không cần đến. Lượng chất béo này bao bọc các tế bào và là nguyên nhân gây ra các bệnh về tim mạch, mỡ máu, béo phì, v.v. Trong khi đó, những chất béo tự nhiên như bơ động vật, dầu dừa, mỡ động vật không trải qua quá trình hóa chất này, và chứa lượng chất béo bão hòa cần thiết cho cơ thể. Chúng giúp cân bằng lượng hormon, củng cố sự phát triển não và xương của trẻ.
6. Cân bằng các lợi khuẩn đường ruột
Khi chào đời, trẻ sơ sinh thừa hưởng những vi khuẩn đường ruột có lợi từ người mẹ khỏe mạnh. Tuy vậy, nếu người mẹ không có những lợi khuẩn lý tưởng, sử dụng thuốc kháng sinh khi còn nhỏ, hoặc có chế độ ăn nghèo nàn trong thời kỳ mang thai, trẻ sinh ra sẽ chịu một số bất lợi về tiêu hóa nói riêng và sức khỏe nói chung.
Vì vậy, việc bổ sung những chế phẩm chứa các lợi khuẩn là rất quan trọng cho trẻ. Một số thực phẩm tốt bao gồm sữa chua, thực phẩm lên men, nước hoa quả tự nhiên, v.v...
7. Hạn chế việc sử dụng các hóa chất có hại cho trẻ
Rất nhiều sản phẩm dùng cho trẻ, từ kem chống nắng, xịt chống côn trùng đến dầu gội, sữa tắm, kem đánh răng đều có chứa các chất hóa học độc hại. Bố mẹ có thể tránh tác hại của chúng đến trẻ bằng cách sử dụng các biện pháp thay thế có nguồn gốc tự nhiên.
9. Cho trẻ vận động một cách tự nhiên
Trẻ nhỏ có xu hướng thích đùa nghịch và vận động tự nhiên, tuy vậy, bố mẹ thường phá hủy niềm vui thích này với việc cho trẻ tham gia vào các hoạt động thể thao quy củ quá sớm. Hầu hết các bé đều thích chạy, đu xà, leo trèo, và thử thách bản thân bằng cách nhấc những vật nặng. Trẻ không thực sự cần các chế độ luyện tập để mô phỏng các động tác giúp các bé phát triển cơ bắp một cách tự nhiên. Tất cả những gì trẻ cần là cây cối, cột xà ngang, dây để trèo, và những vật nặng để chơi. Như thế, bé có thể vừa chơi vui vừa rèn luyện sức khỏe.
Cần chú ý khi cho trẻ ăn váng sữa
Chỉ là thực phẩm bổ sung
Bé Bim con chị Phương, ở khu đô thị Dịch Vọng, Q.Cầu Giấy (Hà Nội), đến tuổi ăn dặm nhưng khá lười ăn cháo. Song, Bim lại khá thích món váng sữa. Cứ đến bữa ăn, chị Phương lại phải dùng váng sữa để "mồi" cháo cho con. Nhưng chỉ ăn cháo được mấy bữa, Bim lại chán, chỉ thích ăn váng sữa. Vì thế, có hôm chị Phương đành cho con ăn váng sữa thay cháo. “Cháu lười ăn quá nên cứ cho được gì vào bụng con là mình làm liền, vì có còn hơn không, Song, chẳng biết ăn nhiều váng sữa có thực sự tốt?”, chị Phương băn khoăn.
Thực tế, không ít bậc phụ huynh nghĩ giống chị Phương, rằng váng sữa rất bổ dưỡng nên tăng cường cho con sử dụng. Nhiều ông bố, bà mẹ, thường "nhồi" cho con ăn 2-3 hộp váng sữa/ngày, thậm chí để con ăn theo sở thích, khi trẻ mới hơn 1 tuổi.
Váng sữa là món ăn mới, xuất hiện trên thị trường từ vài năm gần đây nhưng nó đang trở thành món khoái khẩu của nhiều trẻ nhỏ. Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Lâm, Phó viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia, váng sữa là chế phẩm của sữa, không phải là thực phẩm chính cho bé mà chỉ là thực phẩm bổ sung. Váng sữa cung cấp nhiều canxi và chất béo, có tác dụng hỗ trợ phát triển chiều cao cho bé. Mỗi lứa tuổi có chế độ ăn riêng nên các bậc phụ huynh cần nắm rõ để bổ sung dinh dưỡng cho con.
Không lạm dụng
Theo bác sĩ Liên, Giám đốc Trung tâm Dinh dưỡng (Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội), váng sữa là thực phẩm được làm từ kem sữa cho lên men lactic. Váng sữa được chế biến công nghiệp: Đầu tiên, người ta tách sữa ra thành kem và bơ. Tiếp đó, phần kem sẽ trải qua quy trình chuẩn hóa để đảm bảo độ béo cần thiết. Nhằm loại trừ các vi khuẩn gây bệnh, kem này sẽ được tiệt trùng. Sau đó kem được cho vào thùng, trộn men và ủ chua... Váng sữa có độ béo từ 10% (lỏng) đến 70% (rất đặc) nhưng loại thường được dùng là từ 15 đến 40%. Smetana trong váng sữa chứa các vitamin (A, E, B2, B12, C, PP, beta-carotene), các acid hữu cơ và một số khoáng chất: Canxi, phốt pho, magiê…
Tiến sĩ Nguyễn Thị Lâm khuyến cáo, cha mẹ không nên cho con sử dụng quá nhiều váng sữa, vì sẽ dễ khiến trẻ đầy bụng, khó tiêu, dẫn đến tiêu chảy. Do váng sữa vừa chứa nhiều chất đạm, chất béo, trong khi đó, chất béo chủ yếu là từ nguồn bơ trong sữa. Hơn nữa, nếu thường xuyên cho con sử dụng váng sữa, nhất là ở những trẻ hấp thụ tốt thức ăn và khá mập, trẻ dễ bị béo phì, dẫn đến mắc các bệnh liên quan đến chứng bép phì khi trẻ lớn lên như tiểu đường, huyết áp... Còn với trẻ khác, nếu lạm dụng món này có thể mất cân bằng dinh dưỡng, ảnh hưởng đến sức khỏe. Dù váng sữa giàu dưỡng chất cũng không thể cung cấp hết chất dinh dưỡng cho cơ thể. Do đó, cha mẹ nên bổ sung đa dạng thực phẩm gồm cả chất đạm, béo, chất xơ... cho con, giúp trẻ được cung cấp đủ các chất dinh dưỡng thiết yếu cho sự phát triển cả thể chất lẫn trí tuệ.
Bé Bim con chị Phương, ở khu đô thị Dịch Vọng, Q.Cầu Giấy (Hà Nội), đến tuổi ăn dặm nhưng khá lười ăn cháo. Song, Bim lại khá thích món váng sữa. Cứ đến bữa ăn, chị Phương lại phải dùng váng sữa để "mồi" cháo cho con. Nhưng chỉ ăn cháo được mấy bữa, Bim lại chán, chỉ thích ăn váng sữa. Vì thế, có hôm chị Phương đành cho con ăn váng sữa thay cháo. “Cháu lười ăn quá nên cứ cho được gì vào bụng con là mình làm liền, vì có còn hơn không, Song, chẳng biết ăn nhiều váng sữa có thực sự tốt?”, chị Phương băn khoăn.
Thực tế, không ít bậc phụ huynh nghĩ giống chị Phương, rằng váng sữa rất bổ dưỡng nên tăng cường cho con sử dụng. Nhiều ông bố, bà mẹ, thường "nhồi" cho con ăn 2-3 hộp váng sữa/ngày, thậm chí để con ăn theo sở thích, khi trẻ mới hơn 1 tuổi.
Váng sữa là món ăn mới, xuất hiện trên thị trường từ vài năm gần đây nhưng nó đang trở thành món khoái khẩu của nhiều trẻ nhỏ. Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Lâm, Phó viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia, váng sữa là chế phẩm của sữa, không phải là thực phẩm chính cho bé mà chỉ là thực phẩm bổ sung. Váng sữa cung cấp nhiều canxi và chất béo, có tác dụng hỗ trợ phát triển chiều cao cho bé. Mỗi lứa tuổi có chế độ ăn riêng nên các bậc phụ huynh cần nắm rõ để bổ sung dinh dưỡng cho con.
Không lạm dụng
Theo bác sĩ Liên, Giám đốc Trung tâm Dinh dưỡng (Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội), váng sữa là thực phẩm được làm từ kem sữa cho lên men lactic. Váng sữa được chế biến công nghiệp: Đầu tiên, người ta tách sữa ra thành kem và bơ. Tiếp đó, phần kem sẽ trải qua quy trình chuẩn hóa để đảm bảo độ béo cần thiết. Nhằm loại trừ các vi khuẩn gây bệnh, kem này sẽ được tiệt trùng. Sau đó kem được cho vào thùng, trộn men và ủ chua... Váng sữa có độ béo từ 10% (lỏng) đến 70% (rất đặc) nhưng loại thường được dùng là từ 15 đến 40%. Smetana trong váng sữa chứa các vitamin (A, E, B2, B12, C, PP, beta-carotene), các acid hữu cơ và một số khoáng chất: Canxi, phốt pho, magiê…
Tiến sĩ Nguyễn Thị Lâm khuyến cáo, cha mẹ không nên cho con sử dụng quá nhiều váng sữa, vì sẽ dễ khiến trẻ đầy bụng, khó tiêu, dẫn đến tiêu chảy. Do váng sữa vừa chứa nhiều chất đạm, chất béo, trong khi đó, chất béo chủ yếu là từ nguồn bơ trong sữa. Hơn nữa, nếu thường xuyên cho con sử dụng váng sữa, nhất là ở những trẻ hấp thụ tốt thức ăn và khá mập, trẻ dễ bị béo phì, dẫn đến mắc các bệnh liên quan đến chứng bép phì khi trẻ lớn lên như tiểu đường, huyết áp... Còn với trẻ khác, nếu lạm dụng món này có thể mất cân bằng dinh dưỡng, ảnh hưởng đến sức khỏe. Dù váng sữa giàu dưỡng chất cũng không thể cung cấp hết chất dinh dưỡng cho cơ thể. Do đó, cha mẹ nên bổ sung đa dạng thực phẩm gồm cả chất đạm, béo, chất xơ... cho con, giúp trẻ được cung cấp đủ các chất dinh dưỡng thiết yếu cho sự phát triển cả thể chất lẫn trí tuệ.
Kiểm soát cân nặng cho trẻ nhỏ
1. Theo dõi cân nặng của con thường xuyên
Trước đây, hầu như các bác sỹ không mấy lo lắng về việc trẻ thừa cân trước 2 tuổi, nhưng suy nghĩ này đang dần thay đổi. Theo một nghiên cứu mới đây do trường Đại học Harvard thực hiện, những trẻ tăng cân nhanh trong 6 tháng đầu đời (từ 50% đến 90%), có tỉ lệ béo phì nhiều hơn đáng kể khi lên 3 tuổi. Vì vậy cha mẹ nên theo dõi cân nặng của con thường xuyên để có kế hoạch "phanh" kịp thời trước khi quá muộn.
2. Cho trẻ bú trong thời gian càng dài càng tốt
Đừng bắt trẻ ăn dặm sớm. Những trẻ dùng sữa công thức dễ tăng cân hơn những trẻ được bú mẹ vì các bé đưa vào người lượng calo cao hơn 20% so với thông thường. Trong khi một em bé bú mẹ luôn cho mẹ biết khi nào bé đã no thì ngược lại, với những em bé dùng sữa công thức, bố mẹ thường có xu hướng dỗ bé ăn hết bất chấp bé đã no hay chưa. Những trẻ được cho ăn dặm trước 4 tháng cũng có cân nặng nhỉnh hơn. Nếu có thể, mẹ nên cho bé bú trong vòng một năm đầu, và chỉ nên cho ăn dặm khi bé được 6 tháng.
3. Nắm rõ chỉ số khối cơ thể của con (BMI)
Tỉ lệ chiều cao/ cân nặng, tùy theo độ tuổi và giới tính này là thước đo chuẩn xác nhất để biết trọng lượng của một trẻ từ hai tuổi trở lên có phù hợp hay không. Những trẻ nằm trong khoảng cách phân vị từ 85 đến 95 bị thừa cân, những trẻ mà chỉ số này nằm trong vùng phân vị từ 95 trở lên thì bị béo phì. Theo tiến sỹ Marc Jacobson, giáo sư Nhi khoa và dịch tễ học thuộc Đại học Y Albert Einstein thì: “Khác với người lớn, trẻ thừa cân trông không béo, các em chỉ trông lớn hơn các bạn một chút, vì vậy việc kiểm tra chỉ số khối cơ thể của trẻ là rất quan trọng”.
Một cuộc thăm dò quốc gia do Đại học Michigan tiến hành đã chỉ ra rằng 40% phụ huynh của những trẻ bị béo phì mô tả con họ “có cân nặng vừa phải”.
4. Vận động
Trẻ em cần được vận động khoảng 1 tiếng mỗi ngày và tốt nhất là dành ít nhất một khoảng thời gian để vận động ngoài trời. Theo tiến sỹ Sandra Hassink, chủ tịch Hội chống béo phì của Viện Nhi khoa Mỹ: “Trẻ em thích chạy nhảy ngoài trời hơn là trong phòng khách, và mỗi hoạt động này lại dẫn đến một hoạt động khác”. Cha mẹ nên cố gắng để kéo con vào các hoạt động thể chất mọi lúc mọi nơi: cho con ra khỏi xe đẩy, chơi nhảy lò cò khi đang chờ xe buýt, v.v...
5. Áp dụng chiến lược cho cả gia đình
Cách hữu hiệu nhất để cải thiện các thói quen của trẻ là áp dụng những thay đổi về lối sống cho cả gia đình, với trọng tâm là sức khỏe chứ không phải cân nặng. Nếu bé thắc mắc về thực đơn mới, chỉ cần bảo bé: “Cả nhà mình đang cố gắng để trở nên khỏe hơn, có thêm nhiều năng lượng để vận động hơn”. Theo cách đó, trẻ thừa cân sẽ không cảm thấy bị cô lập, và những trẻ có cân nặng phù hợp cũng hiểu được thông điệp là cần quan tâm đến chế độ dinh dưỡng cũng như tập luyện của mình. Tiến sỹ Jacobson cũng cho biết, nếu bố mẹ không thay đổi các thói quen của họ, thì con cái họ cũng sẽ không thay đổi gì.
6. Ăn thật nhiều rau quả
Nếu bố mẹ ăn nhiều rau quả và cũng cho bé làm quen với rau quả từ sớm, bé sẽ thích chúng. Hãy để những hộp nhựa đựng rau quả đã chế biến sẵn trong tủ lạnh để bé có thể ăn mỗi khi đói. Việc này cần kiên nhẫn, bởi vì một đứa trẻ có thể cần thử loại thức ăn mới đến 10 lần mới chấp nhận nó. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng công việc làm vườn cũng khiến trẻ thích thú hơn với việc ăn những thứ rau quả mà bé tự chăm sóc, vì thế bố mẹ hãy bắt chước gương phu nhân tổng thống Michelle Obama và bắt đầu gieo trồng.
7. Ưu tiên giấc ngủ
Một số nghiên cứu chỉ ra rằng những trẻ không ngủ đủ thường nặng cân hơn vì giấc ngủ giúp điều hòa các hoóc môn kiểm soát sự thèm ăn. Theo cố vấn Judith Owens, trường Đại học Brown, những trẻ mệt mỏi thường kém năng động, và điều đó làm gia tăng nguy cơ bị thừa cân. Trẻ sơ sinh không được ngủ đủ có xu hướng quấy khóc nhiều hơn, vì thế bố mẹ có thể cho bé ăn quá nhiều khi nỗ lực dỗ dành bé nín khóc. Trẻ sơ sinh cần ngủ khoảng 15 giờ mỗi ngày trong 6 tháng đầu và 14 giờ mỗi ngày từ 6 đến 12 tháng. Trẻ từ 1 đến 3 tuổi cần ngủ từ 10 đến 13 tiếng, trong khi trẻ từ 4 đến 9 tuổi cần từ 10 đến 12 giờ.
8. Bỏ tivi ra khỏi phòng con
Rất nhiều gia đình để cho con cái tiếp xúc với tivi thường xuyên. Những trẻ xem tivi từ 4 tiếng trở lên mỗi ngày có chỉ số BMI lớn hơn đáng kể những trẻ chỉ xem tivi từ 2 tiếng trở xuống. Nếu bé tức giận khi bố mẹ lấy tivi ra khỏi phòng, tiến sỹ David Ludwig gợi ý bố mẹ nên thay vào đó một dàn âm thanh khác để bé có thể nhảy theo khi nghe.
9. Biết rõ giới hạn trong vòng 1000 calo
Nhiều bậc phụ huynh đã lầm lẫn về việc con nên ăn bao nhiêu là vừa. Một khi trẻ được cho ăn quá nhiều và bị thúc phải ăn hết khẩu phần, trực giác thường nói cho bé biết “Mình no rồi!” sẽ dần dần bị đánh lừa. Trẻ từ 2 đến 3 tuổi cần khoảng 1000 calo mỗi ngày, trẻ từ 3 đến 8 tuổi cần 1800 đến 2000 calo tùy thuộc vào chiều cao và mức độ vận động. Khẩu phần chất đạm của bé cần đo bằng nắm đấm tay bé, không phụ thuộc vào việc bé bao nhiêu tuổi.
Đồ uống như soda, trà đường, nước tăng lực hoặc quá nhiều nước hoa quả đều làm tăng nguy cơ béo phì ở trẻ em, thậm chỉ cả sữa nguyên kem giờ cũng đang được xem xét.
10. Đừng biến thức ăn thành phần thưởng
Thưởng cho bé đồ ăn vặt có vẻ là một cách dễ dàng và tiện lợi khi bố mẹ muốn bé hợp tác, không nghịch ngợm nữa hoặc để bé cảm thấy vui vẻ hơn. Tuy vậy, một khi đã quen với việc này, trẻ sẽ tìm cách được thưởng nhiều hơn và trọng lượng cũng tăng lên nhanh chóng. Có rất nhiều cách khác để cải thiện tinh thần của trẻ và ghi nhận công sức của bé mà không phải sử dụng phần thưởng thức ăn, như thời gian đặc biệt để chơi với bố hoặc một chuyến đi đến công viên nước.
Trước đây, hầu như các bác sỹ không mấy lo lắng về việc trẻ thừa cân trước 2 tuổi, nhưng suy nghĩ này đang dần thay đổi. Theo một nghiên cứu mới đây do trường Đại học Harvard thực hiện, những trẻ tăng cân nhanh trong 6 tháng đầu đời (từ 50% đến 90%), có tỉ lệ béo phì nhiều hơn đáng kể khi lên 3 tuổi. Vì vậy cha mẹ nên theo dõi cân nặng của con thường xuyên để có kế hoạch "phanh" kịp thời trước khi quá muộn.
2. Cho trẻ bú trong thời gian càng dài càng tốt
Đừng bắt trẻ ăn dặm sớm. Những trẻ dùng sữa công thức dễ tăng cân hơn những trẻ được bú mẹ vì các bé đưa vào người lượng calo cao hơn 20% so với thông thường. Trong khi một em bé bú mẹ luôn cho mẹ biết khi nào bé đã no thì ngược lại, với những em bé dùng sữa công thức, bố mẹ thường có xu hướng dỗ bé ăn hết bất chấp bé đã no hay chưa. Những trẻ được cho ăn dặm trước 4 tháng cũng có cân nặng nhỉnh hơn. Nếu có thể, mẹ nên cho bé bú trong vòng một năm đầu, và chỉ nên cho ăn dặm khi bé được 6 tháng.
3. Nắm rõ chỉ số khối cơ thể của con (BMI)
Tỉ lệ chiều cao/ cân nặng, tùy theo độ tuổi và giới tính này là thước đo chuẩn xác nhất để biết trọng lượng của một trẻ từ hai tuổi trở lên có phù hợp hay không. Những trẻ nằm trong khoảng cách phân vị từ 85 đến 95 bị thừa cân, những trẻ mà chỉ số này nằm trong vùng phân vị từ 95 trở lên thì bị béo phì. Theo tiến sỹ Marc Jacobson, giáo sư Nhi khoa và dịch tễ học thuộc Đại học Y Albert Einstein thì: “Khác với người lớn, trẻ thừa cân trông không béo, các em chỉ trông lớn hơn các bạn một chút, vì vậy việc kiểm tra chỉ số khối cơ thể của trẻ là rất quan trọng”.
Một cuộc thăm dò quốc gia do Đại học Michigan tiến hành đã chỉ ra rằng 40% phụ huynh của những trẻ bị béo phì mô tả con họ “có cân nặng vừa phải”.
4. Vận động
Trẻ em cần được vận động khoảng 1 tiếng mỗi ngày và tốt nhất là dành ít nhất một khoảng thời gian để vận động ngoài trời. Theo tiến sỹ Sandra Hassink, chủ tịch Hội chống béo phì của Viện Nhi khoa Mỹ: “Trẻ em thích chạy nhảy ngoài trời hơn là trong phòng khách, và mỗi hoạt động này lại dẫn đến một hoạt động khác”. Cha mẹ nên cố gắng để kéo con vào các hoạt động thể chất mọi lúc mọi nơi: cho con ra khỏi xe đẩy, chơi nhảy lò cò khi đang chờ xe buýt, v.v...
5. Áp dụng chiến lược cho cả gia đình
Cách hữu hiệu nhất để cải thiện các thói quen của trẻ là áp dụng những thay đổi về lối sống cho cả gia đình, với trọng tâm là sức khỏe chứ không phải cân nặng. Nếu bé thắc mắc về thực đơn mới, chỉ cần bảo bé: “Cả nhà mình đang cố gắng để trở nên khỏe hơn, có thêm nhiều năng lượng để vận động hơn”. Theo cách đó, trẻ thừa cân sẽ không cảm thấy bị cô lập, và những trẻ có cân nặng phù hợp cũng hiểu được thông điệp là cần quan tâm đến chế độ dinh dưỡng cũng như tập luyện của mình. Tiến sỹ Jacobson cũng cho biết, nếu bố mẹ không thay đổi các thói quen của họ, thì con cái họ cũng sẽ không thay đổi gì.
6. Ăn thật nhiều rau quả
Nếu bố mẹ ăn nhiều rau quả và cũng cho bé làm quen với rau quả từ sớm, bé sẽ thích chúng. Hãy để những hộp nhựa đựng rau quả đã chế biến sẵn trong tủ lạnh để bé có thể ăn mỗi khi đói. Việc này cần kiên nhẫn, bởi vì một đứa trẻ có thể cần thử loại thức ăn mới đến 10 lần mới chấp nhận nó. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng công việc làm vườn cũng khiến trẻ thích thú hơn với việc ăn những thứ rau quả mà bé tự chăm sóc, vì thế bố mẹ hãy bắt chước gương phu nhân tổng thống Michelle Obama và bắt đầu gieo trồng.
7. Ưu tiên giấc ngủ
Một số nghiên cứu chỉ ra rằng những trẻ không ngủ đủ thường nặng cân hơn vì giấc ngủ giúp điều hòa các hoóc môn kiểm soát sự thèm ăn. Theo cố vấn Judith Owens, trường Đại học Brown, những trẻ mệt mỏi thường kém năng động, và điều đó làm gia tăng nguy cơ bị thừa cân. Trẻ sơ sinh không được ngủ đủ có xu hướng quấy khóc nhiều hơn, vì thế bố mẹ có thể cho bé ăn quá nhiều khi nỗ lực dỗ dành bé nín khóc. Trẻ sơ sinh cần ngủ khoảng 15 giờ mỗi ngày trong 6 tháng đầu và 14 giờ mỗi ngày từ 6 đến 12 tháng. Trẻ từ 1 đến 3 tuổi cần ngủ từ 10 đến 13 tiếng, trong khi trẻ từ 4 đến 9 tuổi cần từ 10 đến 12 giờ.
8. Bỏ tivi ra khỏi phòng con
Rất nhiều gia đình để cho con cái tiếp xúc với tivi thường xuyên. Những trẻ xem tivi từ 4 tiếng trở lên mỗi ngày có chỉ số BMI lớn hơn đáng kể những trẻ chỉ xem tivi từ 2 tiếng trở xuống. Nếu bé tức giận khi bố mẹ lấy tivi ra khỏi phòng, tiến sỹ David Ludwig gợi ý bố mẹ nên thay vào đó một dàn âm thanh khác để bé có thể nhảy theo khi nghe.
9. Biết rõ giới hạn trong vòng 1000 calo
Nhiều bậc phụ huynh đã lầm lẫn về việc con nên ăn bao nhiêu là vừa. Một khi trẻ được cho ăn quá nhiều và bị thúc phải ăn hết khẩu phần, trực giác thường nói cho bé biết “Mình no rồi!” sẽ dần dần bị đánh lừa. Trẻ từ 2 đến 3 tuổi cần khoảng 1000 calo mỗi ngày, trẻ từ 3 đến 8 tuổi cần 1800 đến 2000 calo tùy thuộc vào chiều cao và mức độ vận động. Khẩu phần chất đạm của bé cần đo bằng nắm đấm tay bé, không phụ thuộc vào việc bé bao nhiêu tuổi.
Đồ uống như soda, trà đường, nước tăng lực hoặc quá nhiều nước hoa quả đều làm tăng nguy cơ béo phì ở trẻ em, thậm chỉ cả sữa nguyên kem giờ cũng đang được xem xét.
10. Đừng biến thức ăn thành phần thưởng
Thưởng cho bé đồ ăn vặt có vẻ là một cách dễ dàng và tiện lợi khi bố mẹ muốn bé hợp tác, không nghịch ngợm nữa hoặc để bé cảm thấy vui vẻ hơn. Tuy vậy, một khi đã quen với việc này, trẻ sẽ tìm cách được thưởng nhiều hơn và trọng lượng cũng tăng lên nhanh chóng. Có rất nhiều cách khác để cải thiện tinh thần của trẻ và ghi nhận công sức của bé mà không phải sử dụng phần thưởng thức ăn, như thời gian đặc biệt để chơi với bố hoặc một chuyến đi đến công viên nước.
Tác dụng của dầu dừa khi đang nuôi con nhỏ
1. Trong dầu dừa có chứa axit lauric - một axit béo có khả năng chống lại vi khuẩn rất cao để bảo vệ hệ thống miễn dịch của thai nhi và trẻ sơ sinh. Bà bầu có thể ăn dầu dừa mỗi ngày để tăng cường chức năng miễn dịch cho bản thân và em bé trong bụng.
2. Vào mùa hanh khô, chỉ cần thêm 1 vài giọt dầu dừa vào chậu nước tắm của bé hay mẹ là có thể dưỡng ẩm cho làn da một cách hoàn hảo và an toàn.
3. Dầu dừa có tác dụng ngăn ngừa rạn da rất tốt cho mẹ bầu. Mỗi ngày bà bầu nên massage với dầu dừa sẽ giảm đáng kể tình trạng rạn da.
4. Nếm 1 chút dầu dừa có thể làm giản chứng ợ nóng khó chịu khi mang thai.
5. Dầu dừa còn có tác dụng cân bằng lượng đường trong máu, giúp kiểm soát bệnh tiểu đường thai kỳ và làm giảm hiện tượng ốm nghén.
6. Xoa một chút dầu dừa lên mông của em bé mới sinh sẽ làm giảm bớt khả năng bám dính của phân xu lên mông em bé, giúp mẹ dễ dàng vệ sinh hơn.
7. Xoa một chút dầu dừa lên núm vú khi cho con bú có thể làm giảm đau ở những vết nứt trên đầu vú.
8. Nếu bé nhà bạn bị "cứt trâu", hãy lấy một chút dầu dừa massage lên vùng đó rồi đợi khoảng 15 sau hãy gội đầu cho bé. Sau một vài lần, "cứt trâu" sẽ hết.
9. Sau khi sinh con, mái tóc của bạn sẽ trở nên xơ xác, hãy cho vài giọt dầu dừa vào nước gội đầu, mái tóc sẽ óng mượt trở lại.
10. Khi bé bị tưa lưỡi, mẹ cũng có thể lấy một chút dầu dừa để đánh tưa lưỡi cho con.
2. Vào mùa hanh khô, chỉ cần thêm 1 vài giọt dầu dừa vào chậu nước tắm của bé hay mẹ là có thể dưỡng ẩm cho làn da một cách hoàn hảo và an toàn.
3. Dầu dừa có tác dụng ngăn ngừa rạn da rất tốt cho mẹ bầu. Mỗi ngày bà bầu nên massage với dầu dừa sẽ giảm đáng kể tình trạng rạn da.
4. Nếm 1 chút dầu dừa có thể làm giản chứng ợ nóng khó chịu khi mang thai.
5. Dầu dừa còn có tác dụng cân bằng lượng đường trong máu, giúp kiểm soát bệnh tiểu đường thai kỳ và làm giảm hiện tượng ốm nghén.
6. Xoa một chút dầu dừa lên mông của em bé mới sinh sẽ làm giảm bớt khả năng bám dính của phân xu lên mông em bé, giúp mẹ dễ dàng vệ sinh hơn.
7. Xoa một chút dầu dừa lên núm vú khi cho con bú có thể làm giảm đau ở những vết nứt trên đầu vú.
8. Nếu bé nhà bạn bị "cứt trâu", hãy lấy một chút dầu dừa massage lên vùng đó rồi đợi khoảng 15 sau hãy gội đầu cho bé. Sau một vài lần, "cứt trâu" sẽ hết.
9. Sau khi sinh con, mái tóc của bạn sẽ trở nên xơ xác, hãy cho vài giọt dầu dừa vào nước gội đầu, mái tóc sẽ óng mượt trở lại.
10. Khi bé bị tưa lưỡi, mẹ cũng có thể lấy một chút dầu dừa để đánh tưa lưỡi cho con.
Hạn chế sử dụng khăn ướt cho trẻ nhỏ
Mới đây các nhà khoa học Mỹ đã tìm thấy hoạt chất methylisothiazolinone (MI - một hóa chất ăn mòn cao, có khả năng diệt khuẩn mạnh mẽ) trong các sản phẩm khăn ướt gây hại tới làn da của trẻ như làm đau, gây dị ứng, phát ban đỏ… Tuy nhiên, dù chưa có bất cứ trường hợp dị ứng khăn ướt được báo cáo tại Mỹ nhưng các nhà nghiên cứu vẫn cho rằng, những phản ứng đó có thể bị chẩn đoán nhầm, giống như bệnh chàm của trẻ nhỏ.
Trong khi đang điều trị cho 6 em bé bị phát ban đỏ, các nhà khoa học tại trường dược để ý thấy: sau khi được điều trị thành công với kháng sinh, một bé gái 8 tuổi đã có dấu hiệu phát ban trở lại ở mặt và mông. Lo ngại bé bị dị ứng, các nhà khoa học đã hỏi dò và biết được mẹ bé thường dùng khăn ướt để lau miệng và mông cho con gái. May mắn là sau khi được khuyến cáo, bé đã dứt hẳn bệnh ngay khi mẹ ngưng sử dụng sản phẩm này.
Trong suốt 2 năm tiếp theo, hơn 5 em bé được mang tới trung tâm y tế với những triệu chứng tương tự và chỉ khỏi bệnh hoàn toàn khi được ngưng chùi rửa bằng khăn ướt.
Trả lời phỏng vấn với tờ NBC News, bác sĩ Mary Wu Chang – một giáo sư về da liễu và khoa nhi của trường Đại học Dược Connecticut cho biết dù có những khuyến cáo gây hại từ khăn ướt nhưng vẫn có nhiều bậc cha mẹ sử dụng sản phẩm này vì tính tiện dụng của nó. Bà cho hay: “Nó rất thuận tiện. Tôi có 3 đứa con và tôi biết khó khăn thế nào mỗi khi phải thay rửa cho chúng, đặc biệt là mỗi khi đi du lịch. Nhưng nếu ở nhà, sẽ tốt hơn nếu bạn sử dụng nước và xà phòng dành cho bé. Cách đó sẽ giúp bạn giảm thiểu được nguy hại”.
Cũng theo bác sĩ Robin Gehris tại Bệnh viện Đại học Pittsburgh cho hay, số lượng trẻ em bị dị ứng như thế này đang ngày một tăng lên. Nguyên nhân là do lượng MI trong khăn ướt tăng lên và khăn ướt cũng không phải là sản phẩm duy nhất chứa MI.
Các chuyên gia về da cũng đề nghị các nhà sản xuất nhanh chóng loại bỏ chất hóa học gây hại cho da trong các sản phẩm do những di chứng như phát ban, bướu, bỏng rộp, cay mắt hay sưng mặt… mà chúng đem lại. Đã có trường hợp một người phụ nữ được chẩn đoán khó khăn khi thở do bị sưng phồng cả đầu và mặt. Trường hợp khác của một du khách Anh đã phải nhập viện 2 ngày ở Tây Ban Nha để điều trị dị ứng khi dùng khăn ướt.
Trước những thông tin đáng e ngại và những khuyến cáo từ các bác sĩ, các “ông lớn” trong làng mỹ phẩm như Johnson & Johnson, Nivea, L’Oreal… đang dần loại bỏ các chất hóa học trong các sản phẩm của mình.
Trong khi đang điều trị cho 6 em bé bị phát ban đỏ, các nhà khoa học tại trường dược để ý thấy: sau khi được điều trị thành công với kháng sinh, một bé gái 8 tuổi đã có dấu hiệu phát ban trở lại ở mặt và mông. Lo ngại bé bị dị ứng, các nhà khoa học đã hỏi dò và biết được mẹ bé thường dùng khăn ướt để lau miệng và mông cho con gái. May mắn là sau khi được khuyến cáo, bé đã dứt hẳn bệnh ngay khi mẹ ngưng sử dụng sản phẩm này.
Trong suốt 2 năm tiếp theo, hơn 5 em bé được mang tới trung tâm y tế với những triệu chứng tương tự và chỉ khỏi bệnh hoàn toàn khi được ngưng chùi rửa bằng khăn ướt.
Trả lời phỏng vấn với tờ NBC News, bác sĩ Mary Wu Chang – một giáo sư về da liễu và khoa nhi của trường Đại học Dược Connecticut cho biết dù có những khuyến cáo gây hại từ khăn ướt nhưng vẫn có nhiều bậc cha mẹ sử dụng sản phẩm này vì tính tiện dụng của nó. Bà cho hay: “Nó rất thuận tiện. Tôi có 3 đứa con và tôi biết khó khăn thế nào mỗi khi phải thay rửa cho chúng, đặc biệt là mỗi khi đi du lịch. Nhưng nếu ở nhà, sẽ tốt hơn nếu bạn sử dụng nước và xà phòng dành cho bé. Cách đó sẽ giúp bạn giảm thiểu được nguy hại”.
Cũng theo bác sĩ Robin Gehris tại Bệnh viện Đại học Pittsburgh cho hay, số lượng trẻ em bị dị ứng như thế này đang ngày một tăng lên. Nguyên nhân là do lượng MI trong khăn ướt tăng lên và khăn ướt cũng không phải là sản phẩm duy nhất chứa MI.
Các chuyên gia về da cũng đề nghị các nhà sản xuất nhanh chóng loại bỏ chất hóa học gây hại cho da trong các sản phẩm do những di chứng như phát ban, bướu, bỏng rộp, cay mắt hay sưng mặt… mà chúng đem lại. Đã có trường hợp một người phụ nữ được chẩn đoán khó khăn khi thở do bị sưng phồng cả đầu và mặt. Trường hợp khác của một du khách Anh đã phải nhập viện 2 ngày ở Tây Ban Nha để điều trị dị ứng khi dùng khăn ướt.
Trước những thông tin đáng e ngại và những khuyến cáo từ các bác sĩ, các “ông lớn” trong làng mỹ phẩm như Johnson & Johnson, Nivea, L’Oreal… đang dần loại bỏ các chất hóa học trong các sản phẩm của mình.
Thứ Ba, 7 tháng 1, 2014
Phòng tránh viêm loét miệng ở trẻ
Làm gì khi bị viêm loét miệng?
- Loét miệng do nhiều nguyên nhân khác nhau, có loại đơn thuần nhưng có loại nguyên nhân gây loét miệng và biến chứng nguy hiểm, vì vậy khi trẻ bị loét miệng, nên cho trẻ đi khám bệnh để bác sĩ xác định nguyên nhân, trên cơ sở đó có hướng điều trị.
- Trong những ngày trẻ bị bệnh loét miệng, nên cho trẻ ăn thức ăn lỏng, không nóng, không cay, không chua và hợp với khẩu vị của trẻ. Để bảo đảm dinh dưỡng cho trẻ, nên cho trẻ ăn nhiều lần trong ngày vì mỗi lần trẻ chỉ ăn được ít một, thức ăn cần bảo đảm đủ chất dinh dưỡng.
Ngoài ra có thể dùng mật ong rơ miệng hoặc chấm vào các nốt loét cho trẻ để tránh các tác động kích thích làm trẻ đau. Nên cho trẻ uống thêm nước rau luộc, nước sinh tố hoa quả…
Phòng bệnh loét miệng cho trẻ như thế nào?
Đối với các trường hợp loét miệng do nhiệt, do thiếu dinh dưỡng, do rối loạn hệ thống miễn dịch… thì cần cho trẻ ăn đúng chế độ dinh dưỡng phù hợp theo lứa tuổi.
Hàng ngày nên vệ sinh miệng cho trẻ.
Trẻ lớn cần đánh răng, súc miệng, họng hàng ngày. Cần cho trẻ ăn thêm rau, hoa quả tươi. Cần cho trẻ đi khám bệnh định kỳ để nhận được những lời khuyên hữu ích. Nên cho trẻ tiêm phòng bệnh thủy đậu đúng quy định.
- Loét miệng do nhiều nguyên nhân khác nhau, có loại đơn thuần nhưng có loại nguyên nhân gây loét miệng và biến chứng nguy hiểm, vì vậy khi trẻ bị loét miệng, nên cho trẻ đi khám bệnh để bác sĩ xác định nguyên nhân, trên cơ sở đó có hướng điều trị.
- Trong những ngày trẻ bị bệnh loét miệng, nên cho trẻ ăn thức ăn lỏng, không nóng, không cay, không chua và hợp với khẩu vị của trẻ. Để bảo đảm dinh dưỡng cho trẻ, nên cho trẻ ăn nhiều lần trong ngày vì mỗi lần trẻ chỉ ăn được ít một, thức ăn cần bảo đảm đủ chất dinh dưỡng.
Ngoài ra có thể dùng mật ong rơ miệng hoặc chấm vào các nốt loét cho trẻ để tránh các tác động kích thích làm trẻ đau. Nên cho trẻ uống thêm nước rau luộc, nước sinh tố hoa quả…
Phòng bệnh loét miệng cho trẻ như thế nào?
Đối với các trường hợp loét miệng do nhiệt, do thiếu dinh dưỡng, do rối loạn hệ thống miễn dịch… thì cần cho trẻ ăn đúng chế độ dinh dưỡng phù hợp theo lứa tuổi.
Hàng ngày nên vệ sinh miệng cho trẻ.
Trẻ lớn cần đánh răng, súc miệng, họng hàng ngày. Cần cho trẻ ăn thêm rau, hoa quả tươi. Cần cho trẻ đi khám bệnh định kỳ để nhận được những lời khuyên hữu ích. Nên cho trẻ tiêm phòng bệnh thủy đậu đúng quy định.
Trị và ngừa táo bón cho trẻ nhỏ
Mật ong và đường. Hòa 1-2 muỗng canh mật ong và đường vào ly sữa của trẻ. Cho trẻ uống ly sữa mật ong này khi bụng đói vào buổi sáng.
Thực phẩm giàu chất xơ. Rau củ quả giàu chất xơ có thể điều trị táo bón ở trẻ em. Các loại rau lá xanh cũng rất giàu chất xơ và nước. Thêm củ cải, cà rốt, cải bắp, củ dền, bí đỏ, cải bó xôi và đậu trong chế độ ăn uống của trẻ.
Hạt lanh. Đây là một trong những cách tốt nhất để điều trị cũng như ngăn ngừa táo bón ở trẻ em. Đun sôi hạt lanh trong nước và cho trẻ uống loại nước này.
Uống nước. Thiếu nước trong cơ thể làm cứng phân. Cho trẻ uống nhiều nước giúp chống táo bón.
Chuối. Đây là một trong các loại trái cây tốt nhất để chữa bệnh táo bón ở trẻ em. Cho trẻ ăn một trái chuối kèm một ly sữa nóng.
Thực phẩm giàu chất xơ. Rau củ quả giàu chất xơ có thể điều trị táo bón ở trẻ em. Các loại rau lá xanh cũng rất giàu chất xơ và nước. Thêm củ cải, cà rốt, cải bắp, củ dền, bí đỏ, cải bó xôi và đậu trong chế độ ăn uống của trẻ.
Hạt lanh. Đây là một trong những cách tốt nhất để điều trị cũng như ngăn ngừa táo bón ở trẻ em. Đun sôi hạt lanh trong nước và cho trẻ uống loại nước này.
Uống nước. Thiếu nước trong cơ thể làm cứng phân. Cho trẻ uống nhiều nước giúp chống táo bón.
Chuối. Đây là một trong các loại trái cây tốt nhất để chữa bệnh táo bón ở trẻ em. Cho trẻ ăn một trái chuối kèm một ly sữa nóng.
Trẻ những mỏi chân vì nguyên nhân nào?
Chứng nhức mỏi chân ở trẻ có nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu hay gặp là do hệ xương của trẻ đang trong giai đoạn phát triển nhanh, nhất là xương cẳng chân. Đây là than phiền hay gặp ở trẻ em tuổi đi học (3 – 7 tuổi) sau 1 ngày chạy nhảy, vận động nhiều hoặc có té ngã.
Nếu bé bị đau do bé vận động nhiều hoặc do tiếp xúc, va chạm với các vật cứng thì không có vấn đề gì đáng lo ngại. Tuy nhiên, đau khớp gối, nhức chân nếu xảy ra bất chợt và tái đi tái lại kèm theo: sốt cao kéo dài, xanh xao, bầm hay chảy máu răng, chảy máu mũi hoặc sưng đau khớp gối, không đi được… có thể là những dấu hiệu sớm của ung thư máu trẻ em.
tre em
Trường hợp con gái chị kêu mỏi 2 đầu gối về đêm và không kèm theo biểu hiện nào khác thì chị cứ yên tâm, đó chỉ là đau khớp tăng trưởng. Sở dĩ trẻ thường đau mỏi vào ban đêm vì đó là thời điểm xương phát triển nhanh nhất. Do cháu đang ở thời kỳ xương phát triển quá nhanh trong khi các chất cần thiết cho sự phát triển của xương như sắt, canxi không được cung cấp kịp thời.
Nếu do nguyên nhân này thì không đáng ngại, chỉ cần bổ sung thêm canxi (dưới dạng thuốc, sữa và các thức ăn có chứa nhiều canxi) là bé sẽ khỏi. Nhưng nếu là đau mỏi khớp gối kèm theo các biểu hiện như nói ở trên thì không được chủ quan mà phải đưa bé đến khám và làm xét nghiệm máu tại khoa nhi hoặc bệnh viện nhi… Sau khi tìm được nguyên nhân, bác sĩ sẽ có chỉ định điều trị thích hợp cho bé.
Nếu bé bị đau do bé vận động nhiều hoặc do tiếp xúc, va chạm với các vật cứng thì không có vấn đề gì đáng lo ngại. Tuy nhiên, đau khớp gối, nhức chân nếu xảy ra bất chợt và tái đi tái lại kèm theo: sốt cao kéo dài, xanh xao, bầm hay chảy máu răng, chảy máu mũi hoặc sưng đau khớp gối, không đi được… có thể là những dấu hiệu sớm của ung thư máu trẻ em.
tre em
Trường hợp con gái chị kêu mỏi 2 đầu gối về đêm và không kèm theo biểu hiện nào khác thì chị cứ yên tâm, đó chỉ là đau khớp tăng trưởng. Sở dĩ trẻ thường đau mỏi vào ban đêm vì đó là thời điểm xương phát triển nhanh nhất. Do cháu đang ở thời kỳ xương phát triển quá nhanh trong khi các chất cần thiết cho sự phát triển của xương như sắt, canxi không được cung cấp kịp thời.
Nếu do nguyên nhân này thì không đáng ngại, chỉ cần bổ sung thêm canxi (dưới dạng thuốc, sữa và các thức ăn có chứa nhiều canxi) là bé sẽ khỏi. Nhưng nếu là đau mỏi khớp gối kèm theo các biểu hiện như nói ở trên thì không được chủ quan mà phải đưa bé đến khám và làm xét nghiệm máu tại khoa nhi hoặc bệnh viện nhi… Sau khi tìm được nguyên nhân, bác sĩ sẽ có chỉ định điều trị thích hợp cho bé.
Chữa ho cho trẻ khi trời lạnh
Khi trẻ ho, mẹ cần quan sát các triệu chứng của bé: Ăn không ngon, tâm trạng chơi đùa ra sao, khi cần thiết, nên đưa con đến bệnh viện, không được sử dụng thuốc tuỳ tiện.
Có nhiều nguyên nhân gây ra ho, như viêm đường hô hấp, dị ứng, viêm phổi, các triệu chứng hen suyễn… Ngoài cách chữa bằng một số các loại thuốc theo sự hướng dẫn của bác sĩ, bạn có thể áp dụng cho bé bằng chế độ ăn uống thích hợp.
Lê + đường + xuyên bối
Chọn trái lê to, bỏ vỏ, cắt nắp, khoét bỏ lõi. Bỏ vào bên trong lê 2-3 cục đường phèn nhỏ. 5-6 hạt xuyên bối (mua ở quầy thuốc Đông y). Cho lê vào hấp cách thuỷ chừng 30 phút. Ngày cho bé ăn 2 lần. Có tác dụng chữa ho, viêm phổi, tiêu đờm.
Nước củ cải luộc
Củ cải trắng, cắt chừng 4-5 lát cho vào một nồi nhỏ, châm bát nước, đun sôi, sau đó để lửa liu riu thêm 5-10 phút. Cho bé uống nước này khi còn nóng điều trị ho, khô mũi, đau hong, ho khan, có đờm. chuyển sang đun nhỏ lửa trong 5 phút. Nước mát khác và sau đó con quý vị uống, bên này điều trị phong nhiệt ho, khô mũi và họng, ho khan ít đờm hiệu quả là tốt.
Cam nướng
Một quả cam ngọt, tất nhiên nên chọn loại bảo đảm, không thuốc nướng trực tiếp trên lửa nhỏ và liên tục lật vỏ để khỏi bị cháy. Nướng chừng 10 phút là được. Quả cam mang ra còn nóng hổi rất dễ lột vỏ, lúc đó thì độ nóng trong ruột cam cũng vừa đủ. Bóc vỏ cam, cho trẻ ă 2-3 múi cam sẽ làm long đờm rất nhanh và chữa ho hay hơn cả dùng thuốc.
Đường nâu + gừng + tỏi
Trẻ em bị cảm lạnh, uống nước gừng nấu đường nâu ấm có tác dụng điều trị rất hiệu quả. Nếu trẻ kèm theo triệu chứng ho, hãy thêm gừng và 2-3 tép tỏi vào nấu thêm 10 phút nữa rồi cho trẻ uống.
Nước tỏi hấp
Lấy 2-3 tép tỏi, đập dập, cho vào bát, thêm một nửa bát nước, 1 viên đường phèn, hấp cách thuỷ 15 phút. Không cần cho bé ăn tỏi, chỉ cần uống nước tỏi hấp này khi còn ấm, ngày 2-3 lần, vửa tốt cho dạ dày, phổi, vừa trị được ho, cảm lạnh.
Có nhiều nguyên nhân gây ra ho, như viêm đường hô hấp, dị ứng, viêm phổi, các triệu chứng hen suyễn… Ngoài cách chữa bằng một số các loại thuốc theo sự hướng dẫn của bác sĩ, bạn có thể áp dụng cho bé bằng chế độ ăn uống thích hợp.
Lê + đường + xuyên bối
Chọn trái lê to, bỏ vỏ, cắt nắp, khoét bỏ lõi. Bỏ vào bên trong lê 2-3 cục đường phèn nhỏ. 5-6 hạt xuyên bối (mua ở quầy thuốc Đông y). Cho lê vào hấp cách thuỷ chừng 30 phút. Ngày cho bé ăn 2 lần. Có tác dụng chữa ho, viêm phổi, tiêu đờm.
Nước củ cải luộc
Củ cải trắng, cắt chừng 4-5 lát cho vào một nồi nhỏ, châm bát nước, đun sôi, sau đó để lửa liu riu thêm 5-10 phút. Cho bé uống nước này khi còn nóng điều trị ho, khô mũi, đau hong, ho khan, có đờm. chuyển sang đun nhỏ lửa trong 5 phút. Nước mát khác và sau đó con quý vị uống, bên này điều trị phong nhiệt ho, khô mũi và họng, ho khan ít đờm hiệu quả là tốt.
Cam nướng
Một quả cam ngọt, tất nhiên nên chọn loại bảo đảm, không thuốc nướng trực tiếp trên lửa nhỏ và liên tục lật vỏ để khỏi bị cháy. Nướng chừng 10 phút là được. Quả cam mang ra còn nóng hổi rất dễ lột vỏ, lúc đó thì độ nóng trong ruột cam cũng vừa đủ. Bóc vỏ cam, cho trẻ ă 2-3 múi cam sẽ làm long đờm rất nhanh và chữa ho hay hơn cả dùng thuốc.
Đường nâu + gừng + tỏi
Trẻ em bị cảm lạnh, uống nước gừng nấu đường nâu ấm có tác dụng điều trị rất hiệu quả. Nếu trẻ kèm theo triệu chứng ho, hãy thêm gừng và 2-3 tép tỏi vào nấu thêm 10 phút nữa rồi cho trẻ uống.
Nước tỏi hấp
Lấy 2-3 tép tỏi, đập dập, cho vào bát, thêm một nửa bát nước, 1 viên đường phèn, hấp cách thuỷ 15 phút. Không cần cho bé ăn tỏi, chỉ cần uống nước tỏi hấp này khi còn ấm, ngày 2-3 lần, vửa tốt cho dạ dày, phổi, vừa trị được ho, cảm lạnh.
Thứ Bảy, 4 tháng 1, 2014
Cách chăm bé khi hơi thở có mùi hôi
Các nguyên nhân cơ bản gây mùi khó chịu trong miệng bé là:
- Vệ sinh răng miệng kém: Những loại vi khuẩn thông thường, cư trú trong khoang miệng, sẽ phản ứng với những mảng thức ăn bám trên răng, lợi, lưỡi và bề mặt cuống họng. Sự tác động này khiến hơi thở bé có mùi hôi, đặc biệt là khi những mảng bám thức ăn không được loại bỏ trong thời gian dài.
- Miệng bé bị khô: Nếu bé thở qua miệng liên tục (do bé bị chảy nước mũi chẳng hạn) thì sau đó, vi khuẩn và môi trường trong khoang miệng của bé sẽ bị xáo trộn.
- Có vật lạ: Một hạt lê, hạt đậu, đồ chơi nhỏ hoặc những đồ vật khác “định cư” trong mũi của bé, có thể gây nên chứng hôi miệng. Tình trạng này rất dễ xảy ra với nhóm bé nhỏ hơn 4 tuổi (độ tuổi chưa đủ nhận thức để phân biệt hành vi nhét một hạt đậu vào lỗ mũi là nguy hiểm).
- Mút ngón tay: Hành vi này vô tình đưa vi khuẩn từ bên ngoài và khiến bé bị nhiễm khuẩn khoang miệng.
- Bị bệnh hoặc dị ứng: Một số bệnh như nhiễm trùng xoang, viêm amidan và thậm chí cả chứng dị ứng thời tiết cũng gây hôi miệng cho bé. Một số bé hay bị ợ hơi cũng dễ phải đối mặt với chứng hôi miệng.
- Sử dụng thức ăn có mùi: Hành, tỏi hoặc một số loại gia vị có mùi khó chịu khác có thể xâm nhập và làm “nhiễu” hơi thở của bé, khiến bé “nặng mùi”.
Cách chăm sóc bé
Trong phần lớn trường hợp, việc vệ sinh răng miệng tốt sẽ giúp hơi thở của bé thơm tho hơn. Giai đoạn 3-4 tuổi, bạn nên hướng dẫn bé cách tự đánh răng hoặc bạn có thể giúp đỡ bé hoàn thành phần việc này. Ngoài ra, bạn cũng nên giúp bé vệ sinh lưỡi bằng dụng cụ làm sạch lưỡi chuyên dụng.
Chỉ nên cho bé dùng một lượng kem đánh răng nhỏ. Các chuyên gia khuyên rằng, cha mẹ nên sử dụng một lượng kem đánh răng không lớn hơn hạt đậu Hà Lan trong mỗi lần đánh răng của bé (đặc biệt với loại kem chứa flour thì càng nên hạn chế). Bởi vì, việc dùng quá nhiều kem đánh răng sẽ gây nên những đốm trắng trên răng bé, khi bé lớn hơn; đồng thời, bạn nên chọn loại kem đánh răng có hương vị tự nhiên mà bé yêu thích.
Nên cho bé đi khám nha khoa theo định kỳ (khoảng mỗi 6 tháng một lần), giúp răng bé luôn sạch và chắc khỏe. Ngoài ra, bác sĩ cũng sẽ xác định được dấu hiệu hôi miệng ở bé và có cách xử trí thích hợp.
Bạn nên giúp bé vệ sinh đôi tay thường xuyên bằng xà phòng và nước sạch, đề phòng bé có tật mút tay hoặc khi bé bốc thức ăn. Nếu bé có thói quen ngậm ti giả, bạn nên tìm cách giúp bé “cai” càng sớm càng tốt.
Nếu muốn dùng thuốc sát trùng để súc miệng cho bé, bạn nên trao đổi với bác sĩ. Các loại nước súc miệng chỉ có tác dụng “che đậy” mùi hôi một cách tạm thời chứ không thể giải quyết triệt để vấn đề. Chìa khóa dành cho bạn vẫn là khuyến khích bé vệ sinh răng miệng đúng cách và giúp bé điều trị các chứng bệnh về miệng (nếu có).
Cuối cùng, bạn không nên khiến bé mất tự tin vì chứng hôi miệng. Bạn nên giúp đỡ để bé không cảm thấy xấu hổ đến mức ngại giao tiếp.
- Vệ sinh răng miệng kém: Những loại vi khuẩn thông thường, cư trú trong khoang miệng, sẽ phản ứng với những mảng thức ăn bám trên răng, lợi, lưỡi và bề mặt cuống họng. Sự tác động này khiến hơi thở bé có mùi hôi, đặc biệt là khi những mảng bám thức ăn không được loại bỏ trong thời gian dài.
- Miệng bé bị khô: Nếu bé thở qua miệng liên tục (do bé bị chảy nước mũi chẳng hạn) thì sau đó, vi khuẩn và môi trường trong khoang miệng của bé sẽ bị xáo trộn.
- Có vật lạ: Một hạt lê, hạt đậu, đồ chơi nhỏ hoặc những đồ vật khác “định cư” trong mũi của bé, có thể gây nên chứng hôi miệng. Tình trạng này rất dễ xảy ra với nhóm bé nhỏ hơn 4 tuổi (độ tuổi chưa đủ nhận thức để phân biệt hành vi nhét một hạt đậu vào lỗ mũi là nguy hiểm).
- Mút ngón tay: Hành vi này vô tình đưa vi khuẩn từ bên ngoài và khiến bé bị nhiễm khuẩn khoang miệng.
- Bị bệnh hoặc dị ứng: Một số bệnh như nhiễm trùng xoang, viêm amidan và thậm chí cả chứng dị ứng thời tiết cũng gây hôi miệng cho bé. Một số bé hay bị ợ hơi cũng dễ phải đối mặt với chứng hôi miệng.
- Sử dụng thức ăn có mùi: Hành, tỏi hoặc một số loại gia vị có mùi khó chịu khác có thể xâm nhập và làm “nhiễu” hơi thở của bé, khiến bé “nặng mùi”.
Cách chăm sóc bé
Trong phần lớn trường hợp, việc vệ sinh răng miệng tốt sẽ giúp hơi thở của bé thơm tho hơn. Giai đoạn 3-4 tuổi, bạn nên hướng dẫn bé cách tự đánh răng hoặc bạn có thể giúp đỡ bé hoàn thành phần việc này. Ngoài ra, bạn cũng nên giúp bé vệ sinh lưỡi bằng dụng cụ làm sạch lưỡi chuyên dụng.
Chỉ nên cho bé dùng một lượng kem đánh răng nhỏ. Các chuyên gia khuyên rằng, cha mẹ nên sử dụng một lượng kem đánh răng không lớn hơn hạt đậu Hà Lan trong mỗi lần đánh răng của bé (đặc biệt với loại kem chứa flour thì càng nên hạn chế). Bởi vì, việc dùng quá nhiều kem đánh răng sẽ gây nên những đốm trắng trên răng bé, khi bé lớn hơn; đồng thời, bạn nên chọn loại kem đánh răng có hương vị tự nhiên mà bé yêu thích.
Nên cho bé đi khám nha khoa theo định kỳ (khoảng mỗi 6 tháng một lần), giúp răng bé luôn sạch và chắc khỏe. Ngoài ra, bác sĩ cũng sẽ xác định được dấu hiệu hôi miệng ở bé và có cách xử trí thích hợp.
Bạn nên giúp bé vệ sinh đôi tay thường xuyên bằng xà phòng và nước sạch, đề phòng bé có tật mút tay hoặc khi bé bốc thức ăn. Nếu bé có thói quen ngậm ti giả, bạn nên tìm cách giúp bé “cai” càng sớm càng tốt.
Nếu muốn dùng thuốc sát trùng để súc miệng cho bé, bạn nên trao đổi với bác sĩ. Các loại nước súc miệng chỉ có tác dụng “che đậy” mùi hôi một cách tạm thời chứ không thể giải quyết triệt để vấn đề. Chìa khóa dành cho bạn vẫn là khuyến khích bé vệ sinh răng miệng đúng cách và giúp bé điều trị các chứng bệnh về miệng (nếu có).
Cuối cùng, bạn không nên khiến bé mất tự tin vì chứng hôi miệng. Bạn nên giúp đỡ để bé không cảm thấy xấu hổ đến mức ngại giao tiếp.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


















